Khái tính là có tính không muốn, không chịu nhờ vả hay làm phiền lụy đến người khác, việc gì cũng cố tự lo lấy. Đây là từ của khẩu ngữ; nhiều người nói gọn là tính khái hoặc “khái lắm”. Người khái tính thường túng mà không vay, mệt mà không kêu, lỡ được ai giúp thì áy náy mãi cho tới khi trả lại được.
| Nghĩa ngắn | Không thích nhờ vả, ngại làm phiền người khác |
| Loại từ | Tính từ, dùng nhiều trong lời nói hằng ngày |
| Cách nói khác | Tính khái, khái lắm, khái quá |
| Sắc thái | Thường là khen nhẹ; khi đi quá đà thì thành lời trách yêu |

Người khái tính là người thế nào?
Mục từ khái tính trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học chỉ có một nghĩa: có tính không muốn, không chịu nhờ vả, phiền lụy ai. Cùng bộ từ điển, chữ khái đứng một mình được ghi là cách nói tắt của khái tính. Vì thế “tính bà khái lắm” và “bà là người khái tính” nói cùng một ý.
Cái khái hiện ra trong những chuyện rất nhỏ. Xe chết máy giữa đường, người khái tính dắt bộ hai cây số chứ không gọi bạn. Ốm nằm viện, họ dặn con đừng báo cho họ hàng. Hàng xóm biếu túi cam, hôm sau đã thấy họ mang sang đĩa xôi. Họ không ghét người khác giúp mình; họ chỉ sợ mắc nợ, sợ mình thành gánh nặng của ai.
Cần tách chữ này khỏi một chữ khái khác. Ở vài địa phương, khái là danh từ chỉ con hổ. Hai chữ đọc giống nhau nhưng nghĩa chẳng dính gì tới nhau, nên câu “ông ấy khái lắm” luôn nói về tính người, không phải về chuyện rừng núi.
Khái tính, khí khái và tự ái đứng gần nhau
Ba từ này hay được dùng lẫn vì cùng xoay quanh lòng tự trọng. Đặt cạnh nhau sẽ thấy mỗi chữ nhấn vào một chỗ.
| Từ | Trọng tâm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Khái tính | Ngại nhờ vả, muốn tự lo việc của mình | Con biếu tiền, bà cụ khái tính phải nài mãi mới chịu cầm. |
| Khí khái | Chí khí cứng cỏi; cũng có nét nghĩa không muốn phiền lụy ai | Thầy giáo nghèo mà khí khái, nhất định trả lại phong bì. |
| Khảng khái | Cứng cỏi, không chịu khuất phục; cao thượng vì nghĩa lớn | Một lời từ chối khảng khái trước kẻ quyền thế. |
| Tự ái | Giận dỗi khi thấy mình bị coi thường | Mới bị nhắc một câu đã tự ái bỏ về. |
| Trái nghĩa | Hay nhờ vả, ỷ lại, dựa dẫm | Việc gì cũng chờ người khác làm hộ. |
Khái tính gần khí khái nhất, vì từ điển ghi cho khí khái một nét nghĩa gần như trùng: có lòng tự trọng, không muốn phiền lụy, nhờ vả ai. Khác ở độ nặng. Khí khái thường dùng để khen cốt cách, nhất là trước cám dỗ hay sức ép; khái tính đời thường hơn, nói về thói quen trong chuyện cơm áo, đi lại.
Với tự ái thì khác hẳn hướng. Người khái tính từ chối vì sợ làm phiền; người tự ái phật ý vì thấy mình bị xem nhẹ. Có lúc hai thứ đi chung: ai đó gạt lời giúp chỉ vì sợ bị thương hại, đó là khái pha chút tự ái. Muốn rõ hơn ranh giới ấy, có thể đọc bài vì sao người ta dễ dỗi khi bị xem nhẹ và bài về lòng tự trọng giữ người ta khỏi luồn cúi.
Khái tính tốt hay xấu?
Phần nhiều là tốt. Người khái tính tự xoay xở, giữ được sự đàng hoàng và ít khi để người khác phải vướng bận vì mình. Nét này rất gần với thói quen tự lo liệu việc của mình mà cha mẹ hay mong ở con cái.
Nhưng khái quá thì có cái giá. Học sinh không hiểu bài mà ngại hỏi bạn, cứ ôm một mình đến hôm kiểm tra. Người già giấu bệnh vì sợ con cháu tốn kém, tới lúc nặng mới nói. Người thân đưa tay ra mà bị gạt đi mãi cũng chạnh lòng, vì cảm thấy mình không được tin. Quan hệ giữa người với người vốn cần có cho có nhận, nhận một lần không làm ai nhỏ đi.
Câu “để tự tôi lo” nói lúc xe xẹp lốp là khái tính. Câu ấy nói với chính con mình khi đang sốt cao giữa đêm thì đã thành bướng.
Tính khái trong lời ăn tiếng nói hằng ngày
Tính khái là gì?
Là cách nói gọn của khái tính: tính không thích nhờ vả, ngại phiền người khác. Người ta hay dùng trong câu cảm thán như “Ông ấy tính khái lắm, có cho cũng không nhận đâu.”
Khái tính có phải từ Hán Việt không?
Chữ tính là yếu tố Hán Việt quen thuộc, như trong tính nết, tính cách. Còn chữ khái ở đây, các từ điển phổ thông chỉ ghi là khẩu ngữ mà không nêu chữ Hán, nên chưa nên khẳng định nó cùng gốc với khái trong khí khái.
Nói ai đó “khái quá” là khen hay chê?
Tùy giọng. Nói với vẻ nể phục thì là khen người có lòng tự trọng. Nói kèm tiếng thở dài, như khi mẹ than “con bé khái quá, đưa gì cũng không lấy”, thì là trách yêu vì người ta không chịu nhận lòng tốt.
Khái tính tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh không có một từ khớp hẳn. Cách diễn đạt gần nhất là too proud to ask for help hoặc too proud to accept help, tức tự trọng đến mức không chịu nhờ hay nhận giúp đỡ.