Hình tượng là con người, sự vật hay cảnh vật cụ thể mà nhà văn dựng lên bằng ngôn từ để người đọc thấy được, cảm được, và qua đó hiểu một điều khái quát hơn về cuộc đời. Trong sách Ngữ văn, “hình tượng nghệ thuật” và “hình tượng văn học” gần như là một. Ngoài văn chương, chữ này còn chỉ cái ấn tượng một người tạo ra trước mắt người khác, như trong câu “giữ hình tượng”.
| Khái niệm | Hình ảnh cụ thể, sinh động do người nghệ sĩ tạo ra, mang ý nghĩa khái quát về đời sống |
| Nghĩa đời thường | Ấn tượng, dáng vẻ một người muốn người khác thấy ở mình (hình tượng ca sĩ, giữ hình tượng) |
| Thuộc | Lí luận văn học; là đơn vị cơ bản của tác phẩm nghệ thuật |
| Dấu hiệu nhận biết | Được miêu tả cụ thể, lặp lại hoặc được dồn sức khắc họa, gợi ra ý nghĩa vượt khỏi chính nó |

Hình tượng: thấy tận mắt mà nghĩ được xa
Nhà khoa học muốn nói về nỗi vất vả của người phụ nữ thời phong kiến thì đưa số liệu, lập luận. Nhà thơ thì dựng lên một người: bà Tú buôn bán ở mom sông, lặn lội như con cò. Người đọc không cần ai giảng mà vẫn thấy được cả một kiếp đàn bà gánh gia đình trên vai. Hình tượng là thế: cái riêng cụ thể mở ra cái chung.
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học xếp hình tượng là danh từ, chỉ sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật, thông qua những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình mà người ta cảm nhận trực tiếp được. Các giáo trình lí luận văn học nói thêm hai điều. Thứ nhất, hình tượng không phải bản sao của đời thật mà là đời thật đã qua chọn lọc và tưởng tượng của người viết. Thứ hai, mỗi ngành nghệ thuật dựng hình tượng bằng chất liệu riêng: hội họa bằng màu và đường nét, âm nhạc bằng âm thanh, còn văn học bằng ngôn từ.
Còn khi người ta bảo một ca sĩ “phá hình tượng” hay một bạn trong lớp “cố giữ hình tượng”, chữ này đã trượt sang nghĩa đời thường: cái vẻ mình muốn người khác thấy. Hai nghĩa có gốc chung ở chỗ đều là một hình ảnh được dựng lên, nhưng bài tập Ngữ văn chỉ hỏi nghĩa thứ nhất.
Hình ảnh, hình tượng và biểu tượng: đừng gọi lẫn
| Khái niệm | Là gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Hình ảnh | Một nét vẽ bằng chữ, có thể chỉ xuất hiện thoáng qua | Một cánh cò bay trong câu thơ tả cảnh đồng quê |
| Hình tượng | Hình ảnh được khắc họa đậm, thường xuyên suốt tác phẩm, mang tư tưởng chủ đạo | Bà Tú trong Thương vợ; cây xà nu trong Rừng xà nu |
| Biểu tượng | Hình ảnh mang nghĩa ước định, nhiều người cùng hiểu, có khi vượt ra ngoài một tác phẩm | Con cò trong ca dao tượng trưng cho người nông dân, người mẹ lam lũ |
Ba khái niệm này lồng vào nhau. Một hình ảnh được nhà văn nâng lên thành trung tâm thì trở thành hình tượng; một hình tượng được cả cộng đồng dùng đi dùng lại thì dần thành biểu tượng. Bà Tú “lặn lội thân cò” là hình tượng của riêng Tú Xương, nhưng con cò thì đã là biểu tượng có sẵn trong ca dao. Phần biểu tượng được giảng kĩ ở bài khái niệm biểu tượng trong văn chương; còn từng nét nhỏ dựng nên hình tượng thì xem bài giải nghĩa hình ảnh thơ và cách phân tích.
Những từ thật sự thay được hình ảnh như ảnh, hình bóng, dáng hình, và chỗ chúng không thay được, nằm ở những từ cùng nghĩa với hình ảnh.
Bốn dấu hiệu để nhận ra một hình tượng
- Cụ thể, có thể hình dung. Hình tượng luôn có dáng, có màu, có hành động hoặc lời nói. Một ý trừu tượng như “lòng yêu nước” chưa phải hình tượng; người lính, ngọn cờ, cánh rừng thì là.
- Được tác giả dồn sức khắc họa. Nó lặp lại nhiều lần, chiếm nhiều câu chữ, hoặc đứng ở vị trí đắt: nhan đề, mở đầu, kết thúc.
- Có nghĩa khái quát. Ngoài nghĩa đen, nó gợi ra một điều về con người, thời đại hay số phận. Hỏi “hình ảnh này nói lên điều gì về cuộc sống?” mà trả lời được thì nhiều khả năng đó là hình tượng.
- Mang dấu ấn người viết. Cùng là người lính, mỗi nhà thơ dựng một kiểu; nét riêng ấy thể hiện cách nhìn của tác giả.
Hình tượng có thể là con người, thiên nhiên, đồ vật, thậm chí một không gian. Đề “phân tích hình tượng…” luôn chờ hai việc: tả lại cái cụ thể và rút ra cái khái quát.
Ba hình tượng quen thuộc trong sách Ngữ văn
Bà Tú trong Thương vợ
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Chỉ hai câu mở đầu, Tú Xương đã cho thấy bà Tú làm lụng không nghỉ (“quanh năm”), ở một chỗ chênh vênh (“mom sông”), và gánh trên vai cả “năm con với một chồng”. Đặt chồng ngang hàng với con mà phải nuôi, nhà thơ vừa thương vợ vừa tự giễu mình. Tác dụng: qua chân dung một người vợ, hình tượng bà Tú nói về cả lớp phụ nữ tần tảo, chịu thương chịu khó trong xã hội cũ. Bài nghị luận về chính hình tượng này có ở trang hướng dẫn soạn bài nghị luận về bà Tú.
Cây xà nu và Tnú trong Rừng xà nu
Nguyễn Trung Thành mở truyện bằng cánh rừng xà nu bị đạn pháo bắn gãy mà vẫn mọc lên lớp lớp cây non, và cũng khép truyện bằng hình ảnh rừng xà nu trải ra tới chân trời. Cây xà nu vì thế vượt khỏi nghĩa một loài cây Tây Nguyên để thành hình tượng của dân làng Xô Man: đau thương mà bất khuất, thế hệ này ngã xuống thì thế hệ sau đứng lên. Bên cạnh là hình tượng Tnú với đôi bàn tay bị đốt, mang cả nỗi đau riêng lẫn con đường cầm vũ khí của cả cộng đồng. Nhiều bài văn mẫu đi sâu vào nhân vật này, như loạt bài phân tích nhân vật Tnú.
Ông lão đánh cá trong Ông già và biển cả
Hemingway để ông lão Xan-ti-a-gô một mình ra khơi, vật lộn mấy ngày với con cá kiếm khổng lồ, rồi mang về chỉ còn bộ xương. Hình tượng ông lão nói về sức chịu đựng và ý chí của con người trước thiên nhiên, cả trong lúc thất bại.
Luyện nhận diện hình tượng qua bốn câu
Câu 1: Trong câu thơ “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” của bài Thương vợ, hình tượng trung tâm là gì?
Đáp án: Hình tượng bà Tú. “Thân cò” là một hình ảnh mượn từ ca dao, được dùng để khắc họa thêm hình tượng người vợ lam lũ; bản thân con cò ở đây không phải hình tượng trung tâm của bài.
Câu 2: “Lòng dũng cảm” có phải là một hình tượng không? Vì sao?
Đáp án: Không. Đó là một khái niệm trừu tượng, không thể hình dung bằng giác quan. Nó chỉ trở thành hình tượng khi được gửi vào một người, một vật cụ thể, ví dụ một người lính trong một trận đánh được miêu tả kĩ.
Câu 3: Vì sao nói cây xà nu là hình tượng chứ không đơn thuần là chi tiết tả cảnh?
Đáp án: Vì cây xà nu xuất hiện ở đầu, cuối và trải suốt truyện, được miêu tả kĩ, và mang nghĩa khái quát về sức sống, sự bất khuất của dân làng. Một chi tiết tả cảnh thường chỉ xuất hiện một lần và không gánh tư tưởng chính.
Câu 4: Câu “Cô ấy rất biết giữ hình tượng trước ống kính” dùng chữ hình tượng theo nghĩa nào?
Đáp án: Nghĩa đời thường: cái vẻ bên ngoài, ấn tượng mà một người muốn người khác thấy ở mình. Nghĩa này không dùng khi phân tích tác phẩm.
Lỗi hay gặp nhất khi làm bài là chép lại mọi hình ảnh trong bài thơ rồi gọi tất cả là hình tượng. Phân biệt được cái gì là nét vẽ phụ, cái gì là trung tâm thì bài phân tích sẽ gọn và trúng hơn hẳn; bài chi tiết nghệ thuật trong truyện giúp tách bạch thêm phần này.
Hình tượng trong văn chương và trên mạng
Hình tượng nghệ thuật là gì?
Là hình tượng do người nghệ sĩ sáng tạo ra trong tác phẩm, bằng chất liệu riêng của từng ngành: ngôn từ, màu sắc, âm thanh, đường nét. Trong văn học, hình tượng nghệ thuật chính là hình tượng ngôn từ.
Hình tượng văn học là gì, có khác hình tượng nghệ thuật không?
Hình tượng văn học là hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn chương. Nói “nghệ thuật” là nói chung cho mọi ngành; nói “văn học” là thu hẹp về thơ, truyện, kịch.
Hình tượng nhân vật là gì?
Là nhân vật đã được khắc họa đủ đậm để mang ý nghĩa khái quát, như bà Tú, Tnú hay Chí Phèo. Không phải nhân vật nào cũng thành hình tượng; nhân vật phụ thoáng qua thường chỉ làm nền.
Giữ hình tượng nghĩa là gì?
Là cẩn thận lời nói, cách ăn mặc, cử chỉ để giữ cái ấn tượng mình đã tạo cho người khác. Ngược lại, “phá hình tượng” là làm một việc trái hẳn với vẻ thường thấy, thường để gây cười.