Hát xẩm là lối hát dân gian của vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, xưa kia do những người hát rong, phần đông là người khiếm thị, vừa kéo đàn vừa hát ở chợ, bến đò, phố đông để kiếm sống. Lời xẩm kể chuyện đời, khuyên điều hiếu nghĩa, có cả chuyện tình và chuyện thời sự. Xẩm là gì, hát xẩm có từ bao giờ, nghe ở đâu: các phần dưới trả lời lần lượt.
| Nghĩa ngắn | Lối hát rong dân gian Bắc Bộ, đệm đàn nhị, gắn với người hát khiếm thị |
| Gốc từ | “Xẩm” vốn là danh từ chỉ người mù đi hát rong |
| Vùng | Đồng bằng và trung du Bắc Bộ; Ninh Bình, Hà Nội là nơi còn giữ nhiều |
| Nhạc cụ chính | Đàn nhị, đàn bầu; thêm sênh, phách hoặc trống để giữ nhịp |

Chữ “xẩm” trong hát xẩm nghĩa là gì?
Trước khi là tên một loại hình nghệ thuật, “xẩm” là tên gọi con người. Từ điển tiếng Việt ghi xẩm là danh từ chỉ người mù chuyên đi hát rong. “Hát xẩm” ban đầu vì thế chỉ đơn giản là “lối hát của người xẩm”, giống như ta nói hát của người đi cấy là hát cấy.
Dần dần, tên gọi chuyển từ người sang lối hát. Người sáng mắt cũng học xẩm, nghệ sĩ chuyên nghiệp đưa xẩm lên sân khấu, nhưng cái tên vẫn giữ lại dấu vết của những người hát rong ngày trước. Có tài liệu cho biết trước khi được gọi thống nhất là xẩm, lối hát này còn được kể với những tên như hát rong, hát dạo.
Lưu ý chính tả: “xẩm” của hát xẩm viết bằng x. Từ chỉ trời chạng vạng thì thường viết là sẩm tối, nghĩa khác hẳn.
Truyền thuyết về ông tổ nghề xẩm
Giới hát xẩm thờ một vị tổ là Trần Quốc Đĩnh, theo truyền thuyết là một hoàng tử đời Trần. Chuyện kể rằng ông bị người anh tranh quyền hãm hại, làm cho mù mắt rồi bỏ giữa rừng. Trong cơn tuyệt vọng, ông được bụt hiện lên chỉ cách làm cây đàn từ dây rừng. Tiếng đàn hay đến mức chim chóc kéo về, người đi rừng nghe tiếng mà tìm thấy ông. Về sau ông truyền ngón đàn và câu hát cho người nghèo, người mù để họ có nghề sống.
Đó là truyền thuyết của người trong nghề; sử sách chính thống không chép chuyện hai hoàng tử này. Về thời điểm ra đời, các tài liệu cũng chưa thống nhất: nhiều nơi cho rằng hát xẩm hình thành khoảng thế kỷ XIV, thời Trần, cũng có ý kiến đẩy mốc ấy sớm hơn. Chắc chắn hơn cả là xẩm đã sống rất lâu trong đời sống làng quê và phố chợ Bắc Bộ, và đến giữa thế kỷ XX vẫn là nghề kiếm sống của không ít người khiếm thị.
Một buổi hát xẩm diễn ra thế nào?
Xẩm xưa không cần sân khấu. Người hát chọn chỗ đông người: cổng chợ, bến đò, góc phố, sân đình ngày hội. Một nhóm xẩm thường chỉ hai ba người, có khi là cả gia đình dắt nhau đi. Người kéo nhị cất giọng, người bên cạnh gõ sênh hoặc phách giữ nhịp, khách qua đường dừng chân nghe, thích thì cho ít tiền.
- Nhạc cụ: đàn nhị là cây đàn quen thuộc nhất vì tiếng vang, dễ mang theo. Đàn bầu cũng hay được dùng; nhóm đông thêm trống, phách.
- Lời hát: nhiều bài theo thể lục bát, dễ nhớ, dễ ứng tác. Người hát giỏi có thể đổi lời ngay tại chỗ cho hợp với người nghe.
- Đề tài: công ơn cha mẹ (bài Thập ân rất nổi tiếng), chuyện tình duyên, thói đời, có khi là lời bàn chuyện thời sự của phố phường.
- Giọng hát: mộc, nhiều chỗ nhấn nhá, vừa buồn vừa hóm; người nghe thấy cả cái khổ lẫn sự lạc quan của người hát rong.
Xẩm hát ở chợ được gọi là xẩm chợ, lối hát khỏe, rõ lời để át được tiếng ồn. Ngoài ra xẩm còn “mượn” nhiều làn điệu dân ca khác của đồng bằng Bắc Bộ rồi hát theo kiểu riêng của mình.
Xẩm bên cạnh chèo, quan họ, ca trù
Bốn loại hình này đều của miền Bắc, nhưng khác nhau rõ về người hát và nơi hát:
| Loại hình | Người hát, nơi hát | Điểm nhận ra |
|---|---|---|
| Hát xẩm | Người hát rong ở chợ, bến, phố | Đàn nhị, lời kể chuyện đời, hát để mưu sinh |
| Chèo | Phường chèo diễn trên chiếu, sân đình | Có tích trò, nhân vật, vai diễn |
| Quan họ | Liền anh, liền chị vùng Kinh Bắc | Hát đối đáp, giao duyên giữa hai bọn nam nữ |
| Ca trù | Đào nương hát, kép gảy đàn đáy | Lối hát thính phòng, kén người nghe |
Nếu đang học về chèo, có thể xem trích đoạn chèo cổ Thị Mầu lên chùa; còn quan họ có trong bài đọc lớp 5 về một buổi tập quan họ.
Từ lời ca dao đến câu hát xẩm
Xẩm là nơi ca dao được “hát lên” nhiều nhất. Những câu lục bát truyền miệng về tình nghĩa, về thói đời được người hát xẩm nối lại, thêm tiếng đệm, kéo dài thành bài. Vì vậy khi học đặc điểm và các nhóm của ca dao, xẩm là một ví dụ sống cho thấy ca dao vốn để hát chứ không chỉ để đọc. Đặt rộng hơn, xẩm là một mảnh của kho sáng tác truyền miệng của người Việt, nơi lời và nhạc chưa bao giờ tách rời.
Ở Ninh Bình có nghệ nhân Hà Thị Cầu, người được báo chí gọi là “người hát xẩm cuối cùng”; bà mất năm 2013. Hiện ở địa phương này vẫn có những đội xẩm truyền dạy cho học sinh, và nhiều nghệ sĩ ở các thành phố tổ chức những chiếu xẩm thường kỳ cho khách nghe.
Nghe xẩm lần đầu cần biết gì?
Xẩm là gì, có phải chỉ người mù không?
Theo nghĩa gốc, xẩm là người mù đi hát rong. Ngày nay chữ này chủ yếu dùng để chỉ loại hình hát xẩm, người hát có thể là bất kỳ ai học được lối hát ấy.
Hát xẩm có nguồn gốc từ đâu?
Hát xẩm có gốc ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Người trong nghề kể nguồn gốc qua truyền thuyết về hoàng tử Trần Quốc Đĩnh, còn mốc ra đời cụ thể thì các tài liệu chưa thống nhất.
Hát xẩm dùng nhạc cụ gì?
Phổ biến nhất là đàn nhị, kế đến là đàn bầu; nhịp được giữ bằng sênh, phách hoặc trống nhỏ. Một nhóm xẩm đơn giản chỉ cần đàn nhị và sênh là hát được.
Bài hát xẩm nổi tiếng là bài nào?
Bài Thập ân, kể mười điều ơn cha mẹ, là một trong những bài được nhắc đến nhiều nhất. Ngoài ra còn nhiều bài xẩm chợ kể chuyện đời, chuyện phố phường.