Duy ý chí là thái độ, cách nghĩ hoặc cách làm chỉ dựa vào ý muốn chủ quan, tin rằng cứ quyết tâm là xong việc, trong khi bỏ qua điều kiện thực tế và quy luật khách quan. Từ này mang sắc thái chê. Người ta hay nói “bệnh duy ý chí”, “kế hoạch duy ý chí”, “cách làm duy ý chí” khi một mục tiêu được đặt ra cao hơn hẳn sức thật.
| Nghĩa ngắn | Chỉ tin vào ý muốn, ý chí của mình; coi nhẹ điều kiện và quy luật khách quan |
| Gốc từ | Hán Việt: duy 唯 (chỉ, riêng) + ý chí 意志 (ý muốn và quyết tâm) |
| Loại từ | Tính từ; “chủ nghĩa duy ý chí”, “bệnh duy ý chí” là cách dùng như danh từ |
| Sắc thái | Phê phán; trang trọng, hay gặp trong văn bản, bài nghị luận, lời nhận xét công việc |

Chữ duy trong duy ý chí nghĩa là gì?
Mấu chốt nằm ở chữ đầu. Duy (唯) là “chỉ, riêng có”. Chữ này đứng đầu cả một họ từ: duy nhất là chỉ có một, duy tâm là chỉ coi tinh thần là gốc, duy vật là coi vật chất là gốc, duy ngã là chỉ biết có mình. Gắn “duy” vào trước “ý chí” thì nghĩa thành: chỉ có ý chí, ngoài ý chí ra không cần tính gì khác.
Bản thân ý chí lại là một từ tốt. Từ điển giải thích đó là khả năng tự đặt mục đích cho việc mình làm và quyết tâm đạt cho bằng được. Cái hỏng không nằm ở ý chí mà ở chữ “duy”: khi quyết tâm bị đẩy lên thành thứ duy nhất đáng kể, người ta thôi nhìn vào thời gian, tiền bạc, sức người, hoàn cảnh. Họ chữ duy này được bàn thêm ở bài hai nghĩa của chữ duy tâm.
Trong triết học phương Tây có một khuynh hướng gọi là voluntarism (từ tiếng Latin voluntas, ý chí), đặt ý chí lên trên lí trí. Tiếng Việt thường dịch tên khuynh hướng này là chủ nghĩa duy ý chí. Còn trong lời ăn tiếng nói, “duy ý chí” đã rời khỏi sách triết để chỉ một lối làm việc rất đời thường.
Khi nào một kế hoạch bị gọi là duy ý chí?
Mục từ duy ý chí trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học có hai nét: một là tư tưởng cho rằng ý chí con người quyết định tất cả, phủ nhận quy luật khách quan; hai là lối hành động chỉ dựa vào ý muốn chủ quan, coi thường quy luật phát triển. Wiktionary tiếng Việt giảng tương tự: đề cao ý chí quá mức, nghĩ rằng cứ quyết tâm thì làm gì cũng được, bất chấp điều kiện khách quan.
Đem về đời sống, có ba dấu hiệu dễ nhận ra:
- Mục tiêu đặt ra trước, rồi mới đi tìm lí do để tin là làm được, thay vì tính từ sức thật mà ra mục tiêu.
- Ai nhắc đến khó khăn thì bị xem là thiếu quyết tâm, “chưa cố hết sức”.
- Khi thất bại, lời giải thích luôn là “chưa đủ quyết tâm”, không ai xét lại chính cái kế hoạch.
Vài câu ví dụ ở những chỗ khác nhau:
- Mất gốc tiếng Anh từ lớp 6 mà định ôn hai tuần để thi đạt 9 điểm thì kế hoạch ấy hơi duy ý chí.
- Đội bóng đặt chỉ tiêu vô địch khi nửa đội hình đang chấn thương là một quyết định duy ý chí.
- Thầy dặn cả lớp: lập thời gian biểu thì cứ mạnh dạn, nhưng đừng duy ý chí đến mức bỏ cả giờ ngủ.
Duy ý chí, có ý chí và nóng vội khác nhau ra sao?
Người ta dễ đánh đồng “có ý chí” với “duy ý chí” vì hai cụm chung một chữ. Thực ra chúng đứng ở hai phía của cùng một ranh giới.
| Từ | Trọng tâm | Sắc thái |
|---|---|---|
| Có ý chí | Quyết tâm theo đuổi mục tiêu, vượt khó, nhưng vẫn tính đến điều kiện thật | Khen |
| Duy ý chí | Chỉ dựa vào quyết tâm, xem nhẹ thực tế và quy luật | Chê |
| Chủ quan | Nhận định theo ý mình, không xuất phát từ thực tế; rộng hơn, gặp cả trong việc nhỏ | Chê nhẹ |
| Nóng vội | Muốn có kết quả ngay, làm tắt, bỏ bước | Chê |
| Thực tế, khách quan (trái nghĩa) | Xuất phát từ điều kiện có thật, tôn trọng quy luật | Khen |
Ba từ ở giữa hay đi cùng nhau: người duy ý chí thường chủ quan khi đánh giá tình hình và nóng vội khi bắt tay vào làm. Nhưng chủ quan là chuyện nhìn, còn duy ý chí là chuyện tin: tin rằng ý muốn đủ sức thay cho điều kiện. Muốn tách bạch hai cách nhìn này, xem bài nhìn sự việc bằng dữ kiện hay bằng cảm nghĩ riêng. Còn ý chí theo nghĩa đẹp thì có bài ý chí và nghị lực khác nhau ở đâu.
Bàn về quyết tâm mà không rơi vào duy ý chí
Đề nghị luận về ý chí, nghị lực rất quen với học sinh. Bài viết sẽ sâu hơn nếu có một đoạn chỉ ra mặt trái: quyết tâm cũng cần có giới hạn. Vài ý gợi mở:
- Ý chí là điều kiện cần, chưa phải điều kiện đủ. Muốn đi xa còn cần sức khỏe, kiến thức, thời gian và sự giúp đỡ.
- Dám đặt mục tiêu cao không sai; sai là không chịu chia nhỏ mục tiêu, không chịu điều chỉnh khi thực tế đổi khác.
- Thất bại vì duy ý chí thường kéo theo mệt mỏi và mất niềm tin, nên biết lượng sức cũng là một cách giữ ý chí lâu bền.
Câu kết cho đoạn văn ấy có thể rất gọn: kế hoạch tốt là kế hoạch mà người lập ra nó dám cố gắng, và vẫn còn đủ sức để thực hiện đến ngày cuối.
Duy ý chí trong học tập, công việc và lời phê bình
Bệnh duy ý chí là gì?
Đây không phải bệnh theo nghĩa y học. “Bệnh duy ý chí” là cách nói ví von, chỉ thói quen làm việc theo ý muốn chủ quan, đặt mục tiêu vượt quá điều kiện thật, rồi đổ lỗi cho thiếu quyết tâm khi không đạt.
Chủ nghĩa duy ý chí là gì?
Là tên gọi một khuynh hướng tư tưởng coi ý chí con người là yếu tố quyết định, đặt ý chí cao hơn lí trí và quy luật khách quan. Trong tiếng Anh, khuynh hướng này gọi là voluntarism.
Duy ý chí tiếng Anh là gì?
Khi nói về học thuyết, dùng voluntarism. Khi chê một kế hoạch, câu tiếng Anh tự nhiên hơn là unrealistic (thiếu thực tế) hoặc wishful thinking (nghĩ theo điều mình mong).
Người có ý chí mạnh có phải là người duy ý chí không?
Không. Người có ý chí mạnh vẫn có thể rất tỉnh táo: họ kiên trì nhưng biết lùi một bước, đổi cách làm khi thấy đường cũ không thông. Người duy ý chí thì coi việc điều chỉnh là đầu hàng.