Đạo mạo là có dáng vẻ nghiêm trang, đứng đắn, cử chỉ và lời nói chừng mực như một người mẫu mực. Từ này dùng để tả bề ngoài và phong thái, chẳng hạn “ông giáo già đạo mạo”. Khi đi với “ra vẻ”, “làm bộ”, nghĩa của đạo mạo nghiêng sang chê: nghiêm trang có phần gượng, như đang diễn cho người khác xem.
| Nghĩa ngắn | Nghiêm trang, đứng đắn, phong thái mẫu mực (nói về dáng vẻ con người) |
| Gốc từ | Hán Việt 道貌: đạo (đạo lý) + mạo (dáng vẻ bề ngoài) |
| Loại từ | Tính từ |
| Sắc thái | Trung tính hoặc khen nhẹ; thành chê khi đi với “ra vẻ”, “làm bộ” |

Chữ đạo mạo viết thế nào?
Viết bằng chữ Hán, đạo mạo là 道貌. Chữ đạo (道) quen thuộc nhất với nghĩa con đường, rồi mở ra nghĩa đạo lý, lẽ phải. Chữ mạo (貌) là dáng mặt, vẻ ngoài; Thiều Chửu còn ghi cách dùng “mạo vi cung kính”, tức bề ngoài làm ra vẻ cung kính. Cùng họ chữ mạo có diện mạo, dung mạo, lễ mạo.
Ghép lại, đạo mạo là cái vẻ của người giữ đạo lý: lưng thẳng, mặt nghiêm, nói chậm, ít cười. Điều thú vị nằm ở chữ mạo. Nó chỉ phần nhìn thấy được, không bảo đảm gì về phần bên trong. Tiếng Hán có thành ngữ 道貌岸然 (đạo mạo ngạn nhiên) vốn tả vẻ nghiêm trang, nhưng ngày nay thường dùng để chê kẻ đạo đức giả. Tiếng Việt chưa đi xa đến thế, song cái mầm nghi ngờ ấy vẫn còn trong từ.
Một chỗ hay lẫn: chữ đạo ở đây không phải chữ đạo 盜 trong đạo văn, đạo tặc (ăn trộm). Hai chữ đọc giống nhau nhưng viết khác hẳn, nghĩa cũng chẳng liên quan.
Khen hay chê, tùy câu nói
Mục từ trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học xếp đạo mạo là tính từ, nghĩa là có vẻ nghiêm trang, đứng đắn với phong thái mẫu mực; ví dụ đi kèm là dáng người đạo mạo, nói năng đạo mạo. Từ điển của Nguyễn Lân thì nhấn vào chữ “tỏ ra”: lúc nào cũng tỏ ra nghiêm nghị. Hai cách giảng gần nhau, nhưng cách sau đã hé ra cái sắc thái “làm ra vẻ”.
Vì thế cùng một từ, đặt vào hai câu sẽ cho hai thái độ:
- Khen hoặc tả trung tính: Cụ đồ ngồi bên án thư, áo the khăn xếp, trông rất đạo mạo.
- Chê nhẹ, giễu: Mới hai mươi tuổi mà đã ra vẻ đạo mạo, nói câu nào cũng như đọc diễn văn.
- Châm biếm rõ: Bộ mặt đạo mạo ấy che một lòng tham chẳng nhỏ.
Người trẻ, người đang vui vẻ ở chỗ thân mật mà khoác vẻ đạo mạo thì dễ thành lố. Với một vị cao niên, một ông giáo, một người đang chủ trì nghi lễ, từ này lại hợp và có ý trọng.
Gần nghĩa, trái nghĩa và những từ dễ lẫn
| Từ | Khác đạo mạo ở đâu |
|---|---|
| Nghiêm nghị | Nói về nét mặt, thái độ nghiêm; không nhất thiết có vẻ “mẫu mực” về đạo đức |
| Đĩnh đạc | Điềm tĩnh, đàng hoàng trong cử chỉ, lời nói; thiên về khen |
| Chững chạc | Vững vàng, ra dáng người lớn; hay dùng cho người trẻ |
| Đường bệ | Dáng to lớn, oai vệ; nghiêng về tầm vóc hơn là đạo lý |
| Diện mạo | Danh từ, chỉ bộ mặt, hình dáng; không mang nghĩa nghiêm trang |
| Trái nghĩa | Suồng sã, cợt nhả, bỗ bã, lôi thôi |
Đạo mạo gần nhất với nghiêm trang và đứng đắn, nhưng có thêm một lớp “phong thái của người dạy đạo”. Muốn khen một bạn trẻ biết cư xử đúng mực, chọn sự chững chạc của người trẻ sẽ tự nhiên hơn. Còn khi muốn nói thẳng về kẻ ngoài miệng nhân nghĩa, trong bụng khác, tiếng Việt có hẳn một từ riêng; xem kẻ quân tử giả hiệu.
Ông quan về hưu không chịu đạo mạo
Văn học trung đại có một người cố tình làm ngược với vẻ đạo mạo: Nguyễn Công Trứ trong Bài ca ngất ngưởng. Từng làm tới Tổng đốc, đáng ra về hưu phải sống khăn áo chỉnh tề cho hợp danh vị, ông lại cưỡi bò vàng đeo đạc ngựa, lên chùa mà có một đôi cô hầu theo sau, rồi tự khoe mình “ngất ngưởng”. Cách sống ấy là một lời trêu nhẹ vào lối sống nề nếp khuôn sáo của giới quan lại đương thời.
Học sinh lớp 11 có thể đọc thêm phần phân tích hình tượng “ông ngất ngưởng” trong bài soạn Bài ca ngất ngưởng sách Kết nối tri thức. Đặt cạnh nhau, đạo mạo và ngất ngưởng gần như hai cực: một bên giữ khuôn, một bên phá khuôn.
Một lưu ý nhỏ khi viết văn: tả nhân vật “đạo mạo” mà không kèm chi tiết nào thì người đọc khó đoán bạn đang khen hay đang mỉa. Thêm một hành động phía sau, kiểu “đạo mạo vuốt râu rồi lén nhét phong bì vào túi”, là đủ rõ.
Đạo mạo trong lời ăn tiếng nói hằng ngày
Đạo mạo nghĩa là gì khi nói về một người?
Là người đó có dáng vẻ, cử chỉ nghiêm trang, nói năng chừng mực, trông như một người mẫu mực. Tùy ngữ cảnh, câu nói có thể là lời tả, lời khen hay lời giễu.
Ra vẻ đạo mạo là khen hay chê?
Thường là chê. Chữ “ra vẻ” cho thấy sự nghiêm trang ấy được dựng lên cho người khác nhìn, không xuất phát từ bên trong hoặc không hợp hoàn cảnh.
Đạo mạo tiếng Anh là gì?
Có thể dịch là dignified, solemn hoặc stately khi tả trung tính. Nếu muốn giữ ý mỉa, tiếng Anh hay dùng sanctimonious (ra vẻ đạo đức).
Đạo mạo có phải đạo đức giả không?
Không hẳn. Đạo mạo chỉ nói về vẻ ngoài; đạo đức giả nói về sự giả dối bên trong. Một người đạo mạo hoàn toàn có thể đứng đắn thật.