Đáo để là tính từ chỉ người ghê gớm, cư xử quá quắt, nhất định không chịu lép vế hay chịu thiệt với ai. Đứng sau một tính từ khác, nó lại thành phụ từ khẩu ngữ, nghĩa là “ra phết, quá chừng”: rét đáo để, vui đáo để. Vậy nên đáo để nghĩa là gì còn tùy nó đứng chỗ nào trong câu.
| Nghĩa 1 (tính từ) | Quá quắt, ghê gớm, không chịu kém, không chịu thiệt với ai |
| Nghĩa 2 (phụ từ) | Đứng sau tính từ: ra phết, quá chừng, hết sức |
| Gốc từ | Hán Việt 到底: đáo (đến) + để (đáy) |
| Sắc thái | Nghĩa 1 là chê, nhẹ hơn đanh đá; nói về trẻ con thì thường nửa chê nửa khen |

Đáo để từ đâu mà có?
Ít người để ý rằng đáo để là một từ Hán Việt, viết bằng chữ 到底. Chữ đáo (到) là đến, tới nơi; ta gặp nó trong đáo hạn (đến hạn), chu đáo (lo tới mọi chỗ). Chữ để (底) là cái đáy; nó nằm trong triệt để, tức là thấu tới tận đáy. Ghép lại, 到底 có nghĩa đen là “đến tận đáy”.
Trong tiếng Hán, 到底 vẫn được dùng với nghĩa “đến cùng” và “rốt cuộc”, như khi hỏi dồn “rốt cuộc là thế nào?”. Sang tiếng Việt, từ này rẽ sang hai lối khác. Một lối nói về con người: kẻ đáo để là kẻ việc gì cũng làm tới cùng, cãi tới cùng, không chịu lùi nửa bước. Lối kia nói về mức độ: một thứ “đến tận đáy” là một thứ hết mức, nên “đắt đáo để” là đắt quá chừng.
Cách giải thích này là liên hệ từ nghĩa của hai chữ Hán, giúp dễ nhớ; từ điển chỉ ghi nghĩa hiện dùng chứ không vẽ lại con đường chuyển nghĩa. Cũng nên tách đáo để khỏi chữ “đáo” trong trò ném đồng xu trúng lỗ đánh đáo, hai chữ ấy nghĩa khác hẳn nhau.
Con bé đáo để và cái rét đáo để
Ở nghĩa thứ nhất, đáo để tả một kiểu người cứng cỏi tới mức khó đối phó. Từ điển giảng gọn: người cư xử quá quắt, không chịu lép vế ai, cũng chẳng nhường ai. Wiktionary tiếng Việt ghi thêm một nhận xét đáng chú ý: đây là nghĩa nhẹ hơn của đanh đá. Người đáo để có thể chẳng to tiếng; họ thắng nhờ lí lẽ nhanh, nhờ biết tính toán để mình không bao giờ chịu thiệt.
- Ngoài chợ: Cô bán rau đáo để lắm, trả giá kiểu gì cũng không bớt được đồng nào.
- Trong lớp: Thằng bé đáo để thật, bị nhắc một câu là cãi lại ba câu, câu nào cũng có lí.
- Trong truyện: Nhân vật cô con dâu đáo để, mẹ chồng giăng bẫy nào cũng gỡ được.
Ở nghĩa thứ hai, đáo để không còn nói về tính nết. Nó đứng ngay sau một tính từ, một động từ, rồi đẩy mức độ lên cao, kèm chút ngạc nhiên của người nói. Có từ điển diễn nghĩa này bằng hai chữ “ra phết”, tức là hơn mình tưởng:
- Sáng nay rét đáo để, ra đường mới biết.
- Món canh trông thường thường mà ngon đáo để.
- Buổi họp lớp tưởng tẻ nhạt, hóa ra vui đáo để.
Mẹo phân biệt rất gọn: thử thay đáo để bằng “ra phết”. Thay được mà câu vẫn xuôi (“rét ra phết”, “vui ra phết”) thì đó là nghĩa mức độ. Không thay được (“cô ấy ra phết lắm” nghe lạc giọng) thì đó là nghĩa tính nết.
Đáo để, đanh đá, chua ngoa, tinh ranh
| Từ | Trọng tâm | Mức chê |
|---|---|---|
| Đáo để | Không chịu kém, không chịu thiệt; khôn và cứng trong đối xử | Vừa phải, có khi nửa đùa |
| Đanh đá | Ghê gớm lộ ra ở lời nói: to tiếng, sắc lẻm, cãi không chịu thua | Nặng hơn đáo để |
| Chua ngoa | Ăn nói chanh chua, điêu ngoa, hay nói quá sự thật | Nặng |
| Tinh ranh | Khôn vặt, lắm mẹo, khó bị lừa | Nhẹ, nhiều khi là khen khéo |
Ba từ đầu đều hay được gán cho phụ nữ theo lối nói cũ, nhưng chúng không đồng nghĩa hoàn toàn. Một người đáo để có thể nói năng nhỏ nhẹ; một người đanh đá thì khó mà nói nhỏ được. Cái miệng không chịu thua ai ấy được tả kĩ ở bài tính đanh đá cá cày.
Về phía trái nghĩa, có thể kể hiền lành, nhu mì, nhường nhịn; đẩy xa hơn nữa là nhu nhược, kiểu người chịu thiệt mãi mà không dám đòi.
Một chỗ hay dùng sai: đáo để ở nghĩa mức độ chỉ hợp với lời nói thân mật. Viết “Bài thơ hay đáo để” trong một bài nghị luận văn học sẽ lệch giọng; câu ấy để dành cho lúc khen bài thơ với bạn cùng bàn thì hợp hơn.
Đáo để: chuyện chữ, chuyện người
Đáo để là khen hay chê?
Ở nghĩa tính nết, đáo để chủ yếu là chê, nhưng nhẹ, nên người lớn hay dùng nửa đùa cho trẻ con lanh lợi: “con bé này đáo để ra trò”. Ở nghĩa mức độ thì nó trung tính; khen hay chê do tính từ đứng trước quyết định, như “ngon đáo để” là khen, “đắt đáo để” là than.
Đáo để là từ láy hay từ ghép?
Vì hai tiếng cùng mở đầu bằng phụ âm đ, một số bảng tra xếp đáo để vào nhóm từ láy âm đầu. Xét theo gốc thì đây là từ Hán Việt 到底, mỗi tiếng đều có nghĩa riêng (đến, đáy), nên cũng có lí khi coi là từ ghép. Trong bài tập ở lớp, nên theo cách thầy cô hướng dẫn; cách phân định có ở bài từ láy toàn bộ và láy bộ phận.
Con gái đáo để là người thế nào?
Thường là cô gái nhanh miệng, sắc sảo, biết giữ phần mình, không để ai bắt nạt hay lấn lướt. Người nói có thể đang chê cô khó chiều, cũng có thể đang khen cô bản lĩnh, nên phải nghe giọng mới rõ.
Viết “đáo để” hay “đáo đễ”?
Viết đúng là đáo để, tiếng sau mang dấu hỏi. Chữ “để” ở đây chính là chữ đáy trong “triệt để”, nhớ được cặp này thì khó viết sai.