Đặc thù là nét riêng biệt làm cho một sự vật, một ngành nghề hay một vùng đất khác với những cái cùng loại. Dùng như tính từ, đặc thù nghĩa là có tính chất riêng, không giống phần đông, như trong “ngành đặc thù”, “điều kiện đặc thù”. Khi ai hỏi tính đặc thù là gì, họ đang hỏi: cái gì ở đây là của riêng nó?
| Nghĩa ngắn | Nét riêng biệt; có tính chất riêng, khác hẳn cái cùng loại |
| Gốc từ | Hán Việt 特殊: đặc (riêng, nổi hẳn lên) + thù (khác) |
| Loại từ | Danh từ và tính từ |
| Hay gặp ở | Văn bản hành chính, báo chí, mô tả công việc, bài nghiên cứu |

Đặc thù khác đặc điểm, đặc trưng ở đâu?
Mấy từ mở đầu bằng chữ “đặc” làm người viết lúng túng nhiều nhất, vì nghĩa chúng chồng lên nhau một phần. Cách tách đơn giản là xem mỗi từ đang so sự vật với cái gì.
| Từ | Đang so với | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đặc điểm | Không cần so; chỉ là nét có thể nhận ra của sự vật | Đặc điểm của lá bàng là to, dày |
| Đặc trưng | So để nhận diện; nét tiêu biểu, nhìn là biết | Nón lá là hình ảnh đặc trưng của làng quê |
| Đặc thù | So với những cái cùng loại; nét chỉ ở đây mới có, kéo theo cách làm riêng | Nghề cứu hỏa có giờ trực đặc thù |
| Đặc biệt | So với mức bình thường; khác thường, nổi trội | Một món quà đặc biệt |
| Phổ biến, thông thường | Trái nghĩa: cái chung, ở đâu cũng có | Quy trình thông thường |
Điểm đáng nhớ là đặc thù hay kéo theo một hệ quả. Nói “ngành y có tính đặc thù” thì người nghe chờ câu tiếp theo: vì vậy giờ làm, cách đào tạo, chế độ cũng phải khác. Còn “đặc điểm” chỉ dừng ở việc mô tả. Học sinh tiểu học làm quen với chữ đặc điểm khá sớm qua bài từ chỉ hình dáng, màu sắc, tính nết của sự vật; còn chỗ khác giữa đặc điểm, đặc trưng, đặc tính được bàn kỹ ở bài nghĩa của chữ đặc điểm 特點.
Đặc thù chỉ là một trong mấy từ gần đặc biệt; khác thường, độc đáo, đặc sắc được xếp theo mức khen ở bài đồng nghĩa, trái nghĩa với đặc biệt.
Đặc sắc cũng có chữ đặc nhưng luôn kèm lời khen; các từ thay nó và từ đối như tầm thường được xếp ở các từ cùng nghĩa với đặc sắc.
Đặc thù đứng ở phía ngược lại với cái chung cho mọi trường hợp; cặp đối lập ấy được xếp cùng các từ khác trong các từ trái nghĩa với phổ biến.
Một từ, hai vị trí trong câu
Mục từ đặc thù trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi hai cách dùng, và cả hai đều quen trong văn viết.
Làm danh từ, đặc thù là chính cái nét riêng ấy. Lúc này nó đứng sau “những”, “một số”, “các” hoặc làm chủ ngữ:
- Mỗi vùng miền có những đặc thù về khí hậu, nên lịch gieo trồng không thể giống nhau.
- Đặc thù của nghề biên tập là đọc chậm, đọc lại, đọc cả những chỗ người khác lướt qua.
Làm tính từ, nó đi sau danh từ để nói danh từ ấy có tính chất riêng:
- Trường chuyên biệt dành cho trẻ khiếm thị cần sách giáo khoa đặc thù in chữ nổi.
- Hàng tươi sống là mặt hàng đặc thù, phải bán trong ngày.
- Công việc có tính chất đặc thù nên được bố trí lịch nghỉ bù.
Cụm “tính đặc thù” là cách danh từ hóa rất hay gặp trong bài nghiên cứu: tính đặc thù của văn học dân gian, tính đặc thù của ngôn ngữ báo chí.
特殊: chữ “đặc” cũ hơn ta tưởng
Chữ đặc (特) có bộ ngưu (trâu, bò). Thiều Chửu ghi nghĩa đầu tiên của nó là con trâu đực, rồi con vật đực dùng riêng để tế; từ chỗ “dành riêng” ấy mới sinh ra nghĩa riêng biệt, khác hẳn mọi người. Cùng gốc có đặc biệt, đặc sắc, đặc sản, đặc quyền.
Chữ thù (殊) mang nghĩa khác, không giống nhau, và còn một nghĩa mạnh hơn là dứt, liều chết. Nghĩa sau còn trong cụm Hán Việt thù tử (liều chết). Chữ thù này không phải chữ thù trong thù hận (仇); hai chữ chỉ trùng âm.
Đặt cạnh nhau, đặc thù là “riêng và khác”. Sang tiếng Việt, từ này hẹp lại, nghiêng về văn phong trang trọng và gần như chỉ dùng cho ngành nghề, điều kiện, vùng miền, ít khi dùng để khen một con người.
Một lỗi gặp hằng ngày trong văn bản: “đặc thù riêng”. Đặc thù đã là riêng, viết thêm chữ “riêng” là lặp ý. “Những đặc thù riêng của địa phương” nên rút lại thành “những đặc thù của địa phương”.
Chữ đặc thù khi viết hồ sơ và khi khen người
Ngành đặc thù là gì?
Là ngành có điều kiện làm việc hoặc yêu cầu riêng khác hẳn các ngành khác, như y tế, hàng không, cứu hộ, nghệ thuật biểu diễn. Vì khác như thế nên thời gian làm việc, cách tuyển người hay chế độ đãi ngộ thường được tính riêng.
Đặc thù tiếng Anh là gì?
Danh từ hay dịch là particularity, specific feature; tính từ là specific hoặc particular. “Ngành đặc thù” có thể dịch là a specialised sector tùy văn cảnh.
Có nên dùng đặc thù để khen một người?
Ít ai nói “cô ấy rất đặc thù”. Muốn khen nét riêng của một người, tiếng Việt dùng “đặc biệt”, “cá tính” hoặc “khác người” (sắc thái trung tính hơn) thì tự nhiên hơn.
Đặc thù và đặc biệt có thay cho nhau được không?
Đôi khi được, nhưng nghĩa lệch đi. “Chế độ đặc thù” là chế độ riêng cho một nhóm vì hoàn cảnh của họ; “chế độ đặc biệt” thì nghe như được ưu ái hơn người khác.