Của thiên trả địa là câu nói dân gian chỉ những của cải có được không chính đáng, do gian dối, chiếm đoạt hay phụ nghĩa mà có, thì rốt cuộc cũng không giữ được, lại trôi về tay người khác. Người ta hay buông câu này khi thấy ai giàu lên nhanh rồi trắng tay cũng nhanh. Câu có gốc từ truyện cổ tích về hai người bạn tên Thiên và Địa.
| Nghĩa ngắn | Của phi nghĩa không bền, sớm muộn cũng mất về tay người khác |
| Loại | Thành ngữ, câu nói dân gian (có sách xếp vào tục ngữ) |
| Gốc | Truyện cổ tích Việt Nam “Của Thiên trả Địa” |
| Sắc thái | Răn đe, có khi mỉa mai; nói về người khác nhiều hơn về mình |

Của thiên trả địa nói về loại của nào?
Câu này không nói về mọi thứ của cải. Tiền mồ hôi nước mắt mà lỡ mất thì người ta than “xui”, không ai bảo “của thiên trả địa”. Câu chỉ dành cho của không thuộc về mình một cách đàng hoàng: tiền lừa được, đồ chiếm được, danh vọng có nhờ người khác rồi quay lưng với người ấy.
Có hai cách hiểu thường gặp, và cả hai đều dẫn về cùng một ý:
- Đọc theo nghĩa chữ: thiên là trời, địa là đất. Của trời cho mà không biết giữ đạo thì lại trả về cho đất, cho đời; không ai mang theo được.
- Đọc theo truyện: Thiên và Địa là tên hai người. Của cải, chức tước Thiên hưởng vốn nhờ công Địa, nên cuối cùng phải trả lại cho Địa.
Ví dụ trong lời nói: “Ông ấy ôm tiền góp vốn của cả xóm rồi đổ hết vào cờ bạc, đúng là của thiên trả địa.” Hoặc trong lời tự nhắc: “Nhặt được ví thì trả người ta, giữ lại chẳng được bao lâu, của thiên trả địa thôi.”
Chuyện hai người bạn Thiên và Địa
Truyện kể Thiên và Địa cùng nghèo, cùng mồ côi, ở chung một làng. Thiên sáng dạ nên Địa nhận đi làm thuê một mình, nuôi bạn ăn học, chỉ dặn khi thành đạt đừng quên nhau. Mười năm sau Thiên đỗ cao, làm quan, nhưng khi Địa bán nhà mua lễ tìm đến thì bị đuổi ra cổng.
Địa ngồi khóc bên sông, được Bụt cho chiếc đò để sống qua ngày, rồi được một nàng tiên xuống làm vợ, hóa phép cho nhà cửa giàu sang. Thiên đến ăn giỗ, thấy vợ đẹp nhà sang thì sinh lòng tham, đòi đổi chức quan và dinh thự của mình lấy tất cả. Sáng hôm sau tỉnh rượu, Thiên thấy mình nằm giữa căn lều ven sông, còn Địa thì ở dinh quan. Câu “Của Thiên trả Địa” từ đó mà ra. Bản kể đầy đủ có ở truyện cổ tích Thiên và Địa.
Cái kết khéo ở chỗ không ai bị trừng phạt bằng roi vọt. Chính lòng tham của Thiên tự trao lại mọi thứ cho người đáng được hưởng. Đem so với chuyện Lưu Bình, Dương Lễ sẽ thấy hai mặt của tình bạn: một bên giúp bạn trong im lặng, một bên được giúp rồi quên ơn.
Những câu cùng ý và câu dễ dùng nhầm
| Câu | Quan hệ | Ý chính |
|---|---|---|
| Của phù vân | Gần nghĩa | Của như mây nổi, đến rồi đi, không bền |
| Ác giả ác báo, gieo gió gặt bão | Gần nghĩa | Làm điều xấu thì chuốc lấy hậu quả |
| Tham thì thâm | Gần nghĩa | Tham quá thì thiệt |
| Của bền tại người | Ý đối lập | Của cải giữ được lâu hay không là do người biết giữ gìn |
| Của đi thay người | Dễ nhầm | Mất của nhưng người bình an; lời an ủi, không có ý răn |
Câu dễ nhầm nhất là của đi thay người. Cả hai đều nói chuyện mất của, nhưng một câu để an ủi người gặp nạn, một câu để răn kẻ có của bất chính. Nói “của thiên trả địa” với người vừa bị mất trộm là vô tình xúc phạm họ, như thể họ đáng bị mất.
Về chuyện câu này là thành ngữ hay tục ngữ, các sách xếp không giống nhau. Nó ngắn, chưa thành một nhận định trọn vẹn, nên gần thành ngữ hơn; cách phân định được giải thích trong bài phân biệt câu tục ngữ với thành ngữ.
Thiên, Địa và cách dùng câu này cho đúng chỗ
Của thiên trả địa nghĩa là gì?
Là của cải có được không chính đáng thì không giữ được lâu, cuối cùng cũng mất hoặc về tay người khác. Câu mang ý răn người ta làm ăn ngay thẳng, biết ơn người đã giúp mình.
Thiên và Địa trong câu này là ai?
Theo truyện cổ tích, đó là tên hai người bạn nghèo: Địa nuôi Thiên ăn học, Thiên đỗ đạt rồi phụ bạn và cuối cùng mất hết vào tay Địa. Nhiều người cũng hiểu thiên là trời, địa là đất; cách hiểu nào cũng ra cùng một bài học.
Khi nào thì không nên nói “của thiên trả địa”?
Khi người mất của là người làm ăn tử tế, bị lừa, bị trộm hay gặp rủi ro. Lúc đó câu hợp hơn là “của đi thay người”. Dùng nhầm sẽ thành trách móc người đang gặp chuyện buồn.