Công thành danh toại là thành ngữ Hán Việt chỉ người đã làm nên sự nghiệp và có được danh tiếng đúng như mình mong muốn. Câu này hay xuất hiện trong lời chúc lên chức, chúc tốt nghiệp, hoặc khi kể về một người đi xa lập nghiệp rồi thành đạt trở về. Nghĩa đen từng chữ là: việc lớn đã xong, tiếng tăm đã toại nguyện.
| Nghĩa ngắn | Sự nghiệp đã thành, danh tiếng đã có như ý |
| Gốc từ | Chữ Hán 功成名遂 |
| Loại từ | Thành ngữ bốn chữ, dùng như vị ngữ hoặc lời chúc |
| Sắc thái | Trang trọng, tích cực; hơi văn chương |

Công thành danh toại gồm bốn chữ nào?
Tách ra từng chữ Hán sẽ thấy câu thành ngữ được xếp rất cân: hai vế, mỗi vế một danh từ đi với một động từ.
- Công (功): công việc, công lao, những gì một người dựng nên bằng sức mình. Cùng gốc với công trạng, thành công.
- Thành (成): nên, xong, trọn vẹn.
- Danh (名): tên tuổi, tiếng tăm. Cùng gốc với danh dự, nổi danh.
- Toại (遂): thỏa, được như ý. Chữ này còn sống trong toại nguyện, toại chí.
Câu chữ Hán này thường được truy về chương 9 sách Lão Tử (Đạo đức kinh), trong ý “công thành, danh toại, thân thoái”: việc xong, tên đã nên thì lui về. Có bản Lão Tử chỉ chép gọn “công toại thân thoái”. Điều thú vị là người Việt dùng thành ngữ mà bỏ hẳn vế “thân thoái” (lui thân), nên nghĩa chỉ còn lại phần thành đạt, mất đi lời nhắc biết dừng của người xưa.
Nghĩa và cách dùng hôm nay
Trong tiếng Việt hiện đại, công thành danh toại dùng để nói một người đã đạt tới đỉnh mong muốn của sự nghiệp, được người khác công nhận. Câu này mang hai điều kiện đi kèm nhau: có công (thành tựu thật) và có danh (được biết đến). Chỉ giàu mà không ai biết, hoặc nổi tiếng mà chẳng làm được gì, đều chưa đủ “danh toại”.
Vài câu ví dụ:
- Lời chúc thầy giáo nghỉ hưu: “Chúc thầy sức khỏe, mong các lứa học trò của thầy đều công thành danh toại.”
- Kể chuyện làng: “Ông Tư rời quê từ năm mười sáu tuổi, ba mươi năm sau công thành danh toại mới về xây lại cây cầu.”
- Câu châm biếm: “Mới được thăng một bậc mà đã đi đứng như người công thành danh toại.”
Câu thứ ba cho thấy thành ngữ cũng có thể dùng mỉa, khi cái “thành” và cái “danh” không xứng với dáng vẻ tự mãn.
Chữ danh trong thơ Nguyễn Công Trứ
Mơ ước “danh toại” của kẻ sĩ ngày xưa hiện rõ trong bài Đi thi tự vịnh của Nguyễn Công Trứ:
Đã mang tiếng ở trong trời đất,
Phải có danh gì với núi sông.
Đó là cái chí lúc chưa đỗ đạt. Còn khi đã qua mấy chục năm làm quan, lúc về hưu ông lại viết bài hát nói ngất ngưởng nổi tiếng, kể chuyện trả ấn quan ở kinh đô rồi cưỡi bò vàng đi chơi. Đặt hai bài cạnh nhau, ta thấy trọn cả câu của Lão Tử: công thành, danh toại, rồi thân thoái.
Đặt cạnh những thành ngữ gần và trái nghĩa
| Thành ngữ, từ | Quan hệ | Chỗ khác |
|---|---|---|
| Vinh quy bái tổ | Gần nghĩa | Cụ thể hơn: đỗ đạt rồi về làng lạy tổ tiên |
| Áo gấm về làng | Gần nghĩa | Nhấn vào việc thành đạt trở về quê |
| Thành danh, thành đạt | Gần nghĩa | Từ thường, ít trang trọng hơn |
| Công thành danh tựu | Biến thể | Đọc theo chữ Hán 功成名就, người Việt ít dùng |
| Thân bại danh liệt | Trái nghĩa | Sự nghiệp đổ vỡ, tiếng tăm tan nát |
| Công dã tràng | Trái nghĩa một phần | Bỏ công sức nhiều mà không thu được gì |
Người muốn hiểu thêm cách nghĩ về chuyện thành đạt có thể đọc bài thành công khác thành đạt ở đâu, còn lời chúc cùng tinh thần cho người sắp lên đường thì có câu chúc ngựa về là thắng. Một lưu ý khi viết: chữ cuối là toại (thanh nặng, vần “oai”), đừng gõ thành “danh thoại” hay “danh toạ”.
Công thành danh toại qua vài tình huống
Công thành danh toại nghĩa là gì?
Là đã làm nên sự nghiệp và có được tiếng tăm như ý muốn. Hiểu sát từng chữ: việc dựng nên đã xong, cái tên đã được như nguyện.
Chúc công thành danh toại có hợp với học sinh, sinh viên không?
Hợp, nhất là dịp tốt nghiệp, nhập học hay đi du học. Khi đó câu chúc mang nghĩa mong người nhận sau này thành đạt. Với bạn bè cùng tuổi, có thể dùng nửa đùa nửa thật để bớt trang trọng.
Công thành danh toại tiếng Anh nói thế nào?
Không có thành ngữ tương đương hoàn toàn. Có thể dịch theo ý là to achieve success and fame hoặc to have made one’s name.
Công thành danh toại và vinh quy bái tổ có giống nhau không?
Gần nhau nhưng không trùng. Vinh quy bái tổ gắn với lệ đỗ khoa cử rồi về quê làm lễ; công thành danh toại rộng hơn, dùng được cho mọi nghề và không cần chuyện về làng.