Công nhật là cách tính tiền công theo từng ngày làm việc, và cũng là tên gọi chính kiểu việc làm được trả như thế. Làm công nhật nghĩa là làm ngày nào hưởng tiền ngày ấy, không ăn lương tháng; lương công nhật là số tiền công cho một ngày. Người miền Nam quen nói và viết công nhựt.
| Nghĩa | Tiền công tính theo ngày; việc làm trả công theo ngày |
| Loại từ | Danh từ, hay đi trong cụm “làm công nhật”, “lương công nhật”, “thợ công nhật” |
| Gốc chữ | Hán Việt: công là công sức, tiền công; nhật (日) là ngày |
| Cách viết khác | Công nhựt (khẩu âm Nam Bộ) |

Công nhật: làm ngày nào, tính ngày ấy
Mục từ công nhật trong từ điển tiếng Việt (bản Wiktionary dẫn lại từ Soha Tra Từ) có hai nét. Nét thứ nhất chỉ số tiền: tiền công lao động của từng ngày, như trong “lương công nhật”. Nét thứ hai chỉ kiểu việc: việc làm mà tiền công được tính theo từng ngày một, như trong “làm công nhật”.
Trong lời nói, hai nét ấy hay chập vào nhau. “Anh ấy đang làm công nhật cho xưởng gỗ” vừa cho biết anh không phải nhân viên chính thức, vừa ngầm nói tiền công tính theo ngày. Gặp trên bảng tuyển người, “cần thợ công nhật” thường là việc ngắn: phụ hồ, bốc hàng, phụ bếp, hái cà phê theo mùa, dọn dẹp sau sự kiện.
Chữ “nhật” và chữ “công” trong một đồng lương
Nhật là ngày, cùng chữ với nhật kí (ghi chép hằng ngày), nhật báo (báo ra mỗi ngày), sinh nhật. Ghép với công theo nghĩa công sức bỏ ra, ta có “công của một ngày”. Người Nam Bộ đọc chệch thành nhựt, giống như chủ nhựt, nhựt trình; cách nói này thuộc lớp lời ăn tiếng nói thường ngày theo vùng, viết văn bản hành chính vẫn nên dùng công nhật.
Cũng nhờ chữ nhật mà dễ tách công nhật khỏi mấy từ trông na ná. Công nhân là người làm việc trong nhà máy, xí nghiệp, chẳng liên quan gì tới cách tính lương. Ngày công là đơn vị đếm (tháng này làm đủ 26 ngày công), còn công nhật là cách trả tiền theo đơn vị ấy.
Những từ đứng gần và đứng ngược công nhật
| Từ | Quan hệ với công nhật | Ghi chú |
|---|---|---|
| Làm thuê theo ngày, làm ngày | Gần nghĩa | Cách nói mộc, dùng nhiều ở nông thôn |
| Thời vụ | Hay đi kèm | Chỉ việc theo mùa; tiền công có thể tính theo ngày hoặc theo khối lượng |
| Làm khoán, ăn sản phẩm | Khác cách tính | Trả theo việc xong hay số sản phẩm, không theo số ngày |
| Lương tháng, biên chế | Gần như trái nghĩa | Thu nhập cố định mỗi tháng, gắn với vị trí ổn định |
| Part-time | Không đồng nghĩa | Làm bán thời gian, có thể vẫn ăn lương tháng hoặc lương giờ |
Văn học hiện thực trước 1945 có không ít nhân vật sống bằng nghề làm thuê như vậy. Lão Hạc của Nam Cao là một ví dụ: ông lão sống nhờ đi làm thuê cho người trong làng, và chỉ một trận ốm dài đủ làm lão yếu đi, cạn sạch tiền dành dụm. Cái bấp bênh của đồng tiền công tính theo ngày nằm gọn ở đó: hôm nào không làm được là hôm ấy không có tiền.
Làm công nhật có cần hợp đồng không?
Bộ luật Lao động 2019 không dùng chữ “công nhật”, nhưng có nói tới người hưởng lương theo ngày. Điều 96 cho hai bên thỏa thuận trả lương theo thời gian, theo sản phẩm hoặc khoán; trả theo ngày thuộc nhóm trả theo thời gian. Điều 97 quy định người hưởng lương theo giờ, ngày, tuần được trả sau mỗi giờ, ngày, tuần làm việc, hoặc trả gộp nếu hai bên đồng ý, nhưng không quá 15 ngày phải trả gộp một lần.
Về giấy tờ, khoản 2 Điều 14 cho phép giao kết hợp đồng bằng lời nói với việc có thời hạn dưới một tháng, trừ một số trường hợp luật nêu riêng. Làm lâu hơn thì hợp đồng phải bằng văn bản. Quy định có thể được sửa đổi, nên khi cần căn cứ chính xác hãy đối chiếu văn bản đang có hiệu lực.
Thợ công nhật, lương công nhật và những cụm hay gặp
Lương công nhật là gì?
Là số tiền trả cho một ngày làm việc. Ví dụ “lương công nhật 350 nghìn” nghĩa là làm đủ một ngày được 350 nghìn đồng, nghỉ ngày nào thì không tính ngày đó.
Nhân viên công nhật khác nhân viên chính thức ở đâu?
Nhân viên công nhật thường được gọi khi có việc và trả theo số ngày làm thực tế; nhân viên chính thức có hợp đồng dài hơn, lương tháng và các chế độ đi kèm. Ranh giới cụ thể tùy hợp đồng mỗi nơi.
Công nhật và OT có liên quan nhau không?
Không phải một chuyện. Công nhật là cách tính lương theo ngày, còn làm OT nghĩa là làm thêm giờ ngoài giờ làm việc bình thường, áp dụng cho cả người ăn lương tháng.
Viết “công nhật” hay “công nhựt” mới đúng?
Cả hai đều là một từ. “Công nhật” là cách viết chuẩn, dùng trong văn bản và sách báo; “công nhựt” là cách đọc của người Nam Bộ, vẫn gặp nhiều trên bảng tuyển người viết tay ở miền Nam.