Con chả biết được đâu là bài đọc 1 của Bài 14 (Công cha nghĩa mẹ) trong sách Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều tập 1, trang 112–115. Bài giải gồm phần Chia sẻ, Đọc hiểu, Luyện tập (từ chỉ tình cảm gia đình) và Bài viết 1 (nghe – viết, ng/ngh, câu đố ch/tr, ac/at, chữ hoa M).

Chia sẻ (trang 112)
Bài 14 mở đầu bằng bốn bức tranh nhỏ về bố mẹ, được đánh số từ 1 đến 4.
Câu 1 (trang 112): Trong mỗi bức tranh dưới đây, bố mẹ đang làm gì?
Trả lời:
- Tranh 1: Ở nhà, mẹ đứng bên bếp ga xào thức ăn, bố cầm cây lau nhà lau sàn.
- Tranh 2: Ngoài đồng, bố cuốc đất, mẹ đội nón lá, cầm cuốc đứng bên cạnh. Bố mẹ cùng làm ruộng.
- Tranh 3: Mẹ dắt tay con đến cổng trường tiểu học, đưa con đi học.
- Tranh 4: Con bị ốm phải nằm trên giường, trán đắp khăn; bố ngồi bên cạnh, đặt tay lên người con, ân cần chăm sóc.
Cả bốn tranh cho thấy bố mẹ vất vả làm việc và luôn ở bên chăm lo cho con.
Câu 2 (trang 112): Sử dụng tranh, ảnh em mang đến lớp, giới thiệu về bố (mẹ) của em.
Gợi ý: – Bố (mẹ) em bao nhiêu tuổi, làm nghề gì? – Bố (mẹ) yêu quý em như thế nào?
Trả lời: Em cầm ảnh lên cho các bạn xem rồi giới thiệu. Ví dụ:
- Đây là ảnh mẹ tớ chụp ở chợ hoa ngày Tết. Mẹ tớ 35 tuổi, là y tá ở trạm y tế xã. Tối nào mẹ cũng kèm tớ học bài, còn sáng chủ nhật thì mẹ nấu món canh chua tớ thích nhất.
- Bức ảnh này là bố tớ đang sửa xe. Bố năm nay 40 tuổi, làm thợ sửa xe máy. Bố bận lắm nhưng chiều nào cũng đón tớ ở cổng trường và kể chuyện vui suốt đường về.
Đọc: Con chả biết được đâu (trang 113)
Bài đọc là đoạn trích bài thơ của nhà thơ Xuân Quỳnh, thể thơ 5 chữ, gồm 5 khổ (bốn khổ 4 dòng, khổ cuối 2 dòng). Người mẹ đang mang thai trò chuyện với em bé trong bụng: mẹ chuẩn bị áo, khăn cho con; bố mua chăn, giặt áo, làm thơ cho con; các anh ngày nào cũng mong em; cả nhà chờ đón em bé ra đời mà em bé thì chưa biết gì.
Từ ngữ SGK giải nghĩa:
- Chả: nghĩa là chẳng, không.
- Hỏi hoài: hỏi đi hỏi lại nhiều lần, hỏi mãi.
Gợi ý đọc: giọng nhẹ nhàng, âu yếm như lời mẹ thủ thỉ; mỗi dòng thơ đọc liền một hơi, hết khổ nghỉ lâu hơn. Câu hỏi của các anh đọc giọng hỏi, hơi sốt ruột; hai dòng cuối đọc chậm lại.
Nội dung chính bài Con chả biết được đâu
Bài thơ nói về tình yêu thương của bố mẹ và cả nhà dành cho em bé từ khi em còn chưa chào đời. Ai cũng chuẩn bị chu đáo và mong ngóng em, dù em bé chưa thể biết điều đó.
Đọc hiểu (trang 113)
Câu 1 (trang 113): Bài thơ là lời của ai nói với ai?
Trả lời: Bài thơ là lời người mẹ nói với đứa con còn nằm trong bụng mẹ, tức là em bé sắp được sinh ra.
Câu 2 (trang 113): Mẹ và bố chuẩn bị những gì để đón con ra đời?
Trả lời:
- Mẹ: đan một chiếc áo nhỏ, thêu hình bông hoa và chiếc lá lên khăn cho con.
- Bố: mua một chiếc chăn để riêng cho con đắp, giặt sẵn áo cho con và viết thơ tặng con.
Câu 3 (trang 113): Các anh quan tâm đến em bé sắp sinh như thế nào?
Trả lời: Các anh rất mong có em, nên cứ hỏi mẹ mãi một câu: “Bao giờ sinh em bé?”. Câu hỏi lặp đi lặp lại cho thấy các anh nóng lòng muốn gặp em.
Câu 4 (trang 113): Em hiểu “con đường tít tắp” trong khổ thơ 2 là gì? Chọn ý đúng:
a) Đường giao thông.
b) Tương lai của con.
c) Hè phố.
Trả lời: Chọn b) Tương lai của con. Con đường dài thăm thẳm, nhìn không thấy điểm cuối, giống như cuộc đời còn rất dài phía trước của em bé. Mẹ cảm nhận con đạp trong bụng và nghĩ đến những bước chân con sẽ đi sau này.
Luyện tập (trang 114)
Câu 1 (trang 114): Ghép các tiếng thương, yêu, quý, mến, kính với nhau để được ít nhất 5 từ (mỗi từ gồm 2 tiếng).
M: yêu thương
Trả lời: Có thể ghép được nhiều từ, ví dụ: yêu thương, thương yêu, yêu quý, quý mến, yêu mến, mến yêu, thương mến, mến thương, kính yêu, kính mến.
Đây đều là những từ chỉ tình cảm tốt đẹp giữa những người trong gia đình, thầy trò, bạn bè.
Câu 2 (trang 114): Đặt câu với một từ em vừa tìm được ở bài tập 1.
Trả lời: Ví dụ:
- Em rất kính yêu ông bà nội.
- Hai chị em tôi luôn thương yêu nhau.
- Cả lớp đều quý mến cô giáo chủ nhiệm.
Bài viết 1 (trang 114–115)
Câu 1 (trang 114): Nghe – viết: Cho con
Bài nghe – viết là đoạn trích bài thơ Cho con của Tuấn Dũng, gồm 2 khổ, mỗi khổ 4 dòng, mỗi dòng 5 chữ.
Trả lời: Khi nghe thầy cô đọc và viết, em lưu ý:
- Viết tên bài ở giữa dòng. Chữ đầu mỗi dòng thơ viết hoa và thẳng hàng với nhau; giữa hai khổ để trống một dòng.
- Khổ 1 kết thúc bằng dấu chấm, khổ 2 kết thúc bằng dấu chấm than.
- Chú ý những chữ dễ viết sai: cánh chim, cành hoa, ngực, khôn lớn, khắp, miền, quê hương.
- Viết xong, đọc lại để soát lỗi và sửa bằng bút chì.
Câu 2 (trang 114): Chọn chữ phù hợp với ô trống: ng hay ngh?
– Cả nhà quây quần trong …ày …ỉ.
– Gió thổi hàng cây …iêng ngả.
– Tiếng chuông chiều …ân …a.
Trả lời:
- Cả nhà quây quần trong ngày nghỉ.
- Gió thổi hàng cây nghiêng ngả.
- Tiếng chuông chiều ngân nga.
Mẹo nhớ: ngh chỉ đứng trước i, e, ê (nghỉ, nghiêng, nghe, nghề); đứng trước các âm khác thì dùng ng (ngày, ngân, nga).
Câu 3 (trang 115): Chọn chữ hoặc vần phù hợp với ô trống rồi giải câu đố:
a) Chữ ch hay tr?
Một mẹ sinh được …iệu con / Rạng ngày lặn hết, …ỉ còn một cha / Mặt mẹ tươi đẹp như hoa / Mặt cha nhăn nhó …ẳng ma nào nhìn. (Là những gì?)
b) Vần ac hay at?
Từ tre từ trúc mà ra / Thành bạn thân thiết h… ca cùng người / Thon dài một đốt thế thôi / Mà bao nốt nh… thành lời ngân nga. (Là cái gì?)
Bài tập có số đặt trong ngoặc là bài tập lựa chọn, thầy cô có thể cho làm ở lớp hoặc ở nhà.
Trả lời:
- a) Điền: triệu, chỉ, chẳng. Lời giải câu đố: mặt trăng (mẹ) và các vì sao (con), mặt trời (cha). Ban đêm trăng sáng dịu cùng muôn ngàn ngôi sao; trời vừa sáng thì sao lặn hết, chỉ còn mặt trời chói chang, không ai nhìn thẳng vào được.
- b) Điền: hát ca, nốt nhạc. Lời giải câu đố: cây sáo (làm từ một đốt tre, trúc, thổi lên thành tiếng nhạc).
Câu 4 (trang 115): Tập viết
a) Viết chữ hoa: M
b) Viết ứng dụng: Một con ngựa đau, cả tàu bỏ cỏ.
Trả lời:
- Chữ hoa M cỡ vừa cao 5 li (6 đường kẻ ngang), gồm 4 nét: móc ngược trái, thẳng đứng, thẳng xiên và móc ngược phải. Các nét viết liền, không nhấc bút.
- Nét 1: đặt bút gần đường kẻ 2, viết nét móc từ dưới đi lên, hơi lượn sang phải, chạm đường kẻ 6 thì dừng. Nét 2: từ đó kéo thẳng xuống đường kẻ 1. Nét 3: đổi hướng, viết nét thẳng xiên đi lên đến đường kẻ 6. Nét 4: viết nét móc ngược phải đi xuống, dừng bút ở đường kẻ 2.
- Câu ứng dụng là một câu tục ngữ: trong một nhóm, khi có một người gặp chuyện không may thì cả nhóm cùng lo lắng, chia sẻ. Viết hoa chữ M đầu câu; chữ hoa và các chữ g, b cao 2,5 li, chữ đ cao 2 li, chữ t cao 1,5 li, các chữ còn lại cao 1 li; có dấu phẩy sau “đau” và dấu chấm cuối câu.
Bài đọc 2 của Bài 14 là truyện Con nuôi (trang 115–119). Các bài khác của chủ điểm Em ở nhà nằm trong mục lục Tiếng Việt lớp 2 Cánh diều.