Cô bé quàng khăn đỏ là truyện cổ tích Pháp do Charles Perrault in năm 1697, sau này được kể cho trẻ em khắp thế giới. Bài dưới đây chép nguyên văn bản dịch của Nguyễn Văn Vĩnh, giữ đúng cái kết không có người cứu của Perrault, kèm chú thích từ cổ, ý nghĩa và so sánh với bản Grimm có bác thợ săn.

Truyện Cô bé quàng khăn đỏ
Ngày xưa, có một con bé nhà quê, xinh thật sự là xinh. Mẹ nó yêu nó lắm. Bà nó lại yêu nó hơn nữa. Bà nó cho nó một cái khăn quàng đỏ, nó quàng vào đầu, vừa xỉnh vừa xinh, cho nên đi đến đâu, ai cũng gọi là con bé quàng khăn đỏ.
Một hôm kia, mẹ nó nhân làm mẻ bánh mì, có nướng thêm mấy cái bánh sữa, rồi bảo nó rằng: « Con ơi, con đi thăm bà, xem bà mạnh khoẻ thế nào? Nghe đâu bà mệt đấy. Nhân thể con mang biếu bà một chiếc bánh sữa và lọ bơ này ». Con bé quàng khăn đỏ đi ngay sang nhà bà nó ở bên làng khác. Qua rừng thì nó gặp chú Lang. Lang muốn ăn thịt nó lắm, mà không dám, vì bấy giờ trong rừng có mấy người đi kiếm củi. Lang bèn hỏi con bé quàng khăn đỏ đi đâu? Tội nghiệp! Con bé không biết rằng đứng ngoài đường mà nói chuyện với Lang, là nguy-hiểm. Con bé mới trả lời rằng: Tớ đi sang thăm bà tớ. Mẹ tớ sai đem biếu bà tớ một chiếc bánh sữa và một lọ bơ. — Lang hỏi: Nhà bà mày có xa hay không? — Con bé quàng khăn đỏ nói rằng: Xa lắm, ở tận bên kia cái cối xay-máy nọ, nhà bà tớ ở ngay đầu làng. — Lang rằng: Tôi cũng muốn sang thăm bà chị. Tôi đi đàng này, chị đi đàng ấy, thử xem ai đến nơi trước.
Con Lang bèn chạy ba chân bốn cẳng qua đường tắt, còn con bé thì đi đường dài, mà vừa đi lại vừa chơi, nhặt hạt dẻ, bắt bươm bướm, thấy hoa đâu thì hái mà bó lại cầm tay.
Con Lang chạy chỉ một mạch là tới nhà bà lão ấy, gõ cửa: Tốc, tốc. — Trong nhà hỏi: Ai đấy? Con Lang bèn bắt chước giọng con bé, mà thưa rằng: « Thưa bà, cháu bà đây, là con bé quàng khăn đỏ. Mẹ cháu sai cháu đem sang biếu bà một cái bánh sữa và một lọ bơ. Bà lão mệt nằm trên giường, bảo rằng: « Con nâng cái cựa thì cửa mở ra ». Con Lang cầm cái cựa nâng lên, thì cửa mở ra thật. Lang ta vồ ngay bà lão, chỉ chớp mắt, ăn hết thịt xương, bởi vì bụng đói đã ba ngày rồi. Ăn xong, con Lang đóng cửa lại rồi nhẩy lên giường bà lão mà nằm, để chờ con bé quàng khăn đỏ. Được một lát thì con bé đến gõ cửa: Tốc, tốc — Trong hỏi: Ai đấy? — Con bé quàng khăn đỏ nghe tiếng ồ-ồ, đã sợ; sau lại nghĩ bà ngạt mũi, cho nên giọng ồ-ồ như thế. Nó bèn thưa rằng: Thưa bà, cháu bà đây, là con bé quàng khăn đỏ. Mẹ cháu sai cháu sang biếu bà một cái bánh sữa và một lọ bơ. Con Lang lại nói nhỏ tiếng lại mà rằng « Con nâng cái cựa thì cửa mở ra ». Con bé quàng khăn đỏ sẽ nâng cái cựa lên thì cửa mở ra thật.
Con Lang thấy con bé vào, bèn trùm mền cho kín, mà bảo rằng: Con để cái bánh với lọ bơ trên nắp rương, rồi con lên đây đi ngủ với bà. Con bé quàng khăn đỏ, cổi áo ra, trèo lên giường nằm. Vừa mở mền ra, thì thấy mình bà lạ lắm, con bé mới bảo bà rằng: « Bà ơi bà, tay bà dài nhỉ! Lang rằng: Tay bà dài, để ôm cháu mà hôn cho chặt. — Con bé lại bảo: Bà ơi bà, chân bà to nhỉ! — Chân bà to, để chạy cho nhanh — Bà ơi bà, tai bà to nhỉ! — Tai bà to, để nghe cho rõ. — Bà ơi bà, mắt bà to nhỉ! — Mắt bà to, để nhìn cháu cho kỹ. — Bà ơi bà, răng bà to nhỉ! — Răng bà to, để ăn thịt cháu đây ». Nói đoạn, con Lang độc dữ ấy, vồ lấy con bé quàng khăn đỏ, mà ăn thịt.
CÂU KẾT
Xem sự-tích chuyện này thì biết:
Trẻ dại nghe, là nết đã quen.
Nhất là gái mới lớn lên,
Vừa xinh, vừa đẹp có duyên hơn người.
Ai nói cũng để tai nghe thế,
Cái dại đâu mà tệ lắm thay!
Trách sao gặp sự chẳng may
Bị Lang nó cắn nó nhay hoài hoài.
Nhưng Lang cũng có hai ba giống,
Cách khôn-ngoan có giống nhau mô,
Có con vui nết dỡn nồ,
Chẳng hung chẳng ác, chẳng hò thét chi.
Coi ra bộ nhu mì, hỉ-hả,
Để đi theo cô-ả làm quen,
Đến nhà, đến cửa mon-men
Hỡi ai, ai biết tính hiền ấy chăng?
Than ôi! khéo đãi-đằng như thật,
Chính là Lang, độc nhất nòi Lang,
Charles Perrault, Nguyễn Văn Vĩnh dịch, Chuyện trẻ con (in năm 1928, bản tái bản 1950)
Chú thích:
- Lang: chó sói. Dịch giả dùng chữ Hán “lang” (sói) và gọi nó như gọi tên một nhân vật, giống kiểu người mình gọi con hổ là “ông Ba Mươi”.
- Bánh sữa: bánh nướng có bơ sữa của nhà quê Pháp (nguyên văn là galette).
- Cối xay-máy: cái cối xay bột lớn ở đầu làng (nguyên văn moulin).
- Cái cựa: cái chốt then cửa kiểu cũ, kéo chốt lên thì cánh cửa tự mở.
- Mền: chăn. Rương: hòm gỗ đựng đồ. Cổi: cởi.
- Câu kết: lời răn bằng thơ Perrault đặt cuối mỗi truyện; Nguyễn Văn Vĩnh chuyển thành thể song thất lục bát (hai câu bảy chữ, một cặp lục bát).
- Dỡn nồ: đùa giỡn, bông lơn. Mô: đâu (tiếng miền Trung); “có giống nhau mô” là chẳng giống nhau đâu. Đãi-đằng: giãi bày, ở đây chỉ lời lẽ ngọt ngào bày vẽ.
- Bản in năm 1950 được số hóa trên Wikisource dừng ở câu “Chính là Lang, độc nhất nòi Lang,” nên phần thơ ở trên khuyết dòng cuối. Ý trọn vẹn của Perrault là: trong các loài sói, loài sói ngọt ngào chính là loài nguy hiểm hơn cả.
Ý nghĩa truyện Cô bé quàng khăn đỏ
Một lời răn không có đường lùi
Bản Perrault không có ai đến cứu. Cô bé vui vẻ đứng giữa đường trò chuyện với Lang, chỉ rõ nhà bà ở ngay đầu làng bên kia cối xay, rồi chính sự thật thà ấy dẫn sói tới cả hai bà cháu. Truyện khép lại bằng cảnh sói vồ lấy con bé, gọn và lạnh. Cái kết dứt khoát đó là chủ ý của tác giả: Perrault viết cho những thiếu nữ trong giới quý tộc Pháp thế kỷ XVII, muốn họ nhớ rằng một lần cả tin có thể không còn cơ hội sửa sai.
Con sói biết nói ngọt
Phần thơ kết cho thấy Lang không chỉ là con thú trong rừng. Có loại sói “nhu mì, hỉ-hả”, đi theo làm quen rồi mon men đến tận cửa nhà, tức là những kẻ khoác vẻ hiền lành để dụ dỗ người nhẹ dạ. Vì thế đoạn hỏi đáp nổi tiếng về tay, chân, tai, mắt, răng được dựng chậm rãi: câu trả lời nào của sói cũng âu yếm như lời bà, cho đến câu cuối thì lộ nanh vuốt.
Điều trẻ em hôm nay có thể học
- Không nói cho người lạ biết mình đang đi đâu, nhà ở chỗ nào, ở nhà với ai, ngoài đường cũng như khi trò chuyện trên mạng.
- Lời nói dễ nghe chưa chắc là ý tốt; thấy điều bất thường (như giọng bà bỗng “ồ-ồ”) thì dừng lại, hỏi người lớn tin cậy.
- Nghe lời cha mẹ dặn không phải để bị gò bó mà để giữ an toàn cho chính mình.
Người lớn cũng có bài học riêng. Truyện nói rõ con bé “không biết rằng đứng ngoài đường mà nói chuyện với Lang, là nguy-hiểm”, nghĩa là trẻ con không tự biết điều đó, phải có người dạy cho các em.
Nguồn gốc truyện Cô bé quàng khăn đỏ
Truyện có tên tiếng Pháp là Le Petit Chaperon rouge, nằm trong tập Histoires ou contes du temps passé, avec des moralités (còn gọi là Contes de ma mère l’Oye) của Charles Perrault (1628–1703), in ở Paris năm 1697. “Chaperon” vốn là một kiểu mũ trùm bằng vải; Nguyễn Văn Vĩnh dịch thành “khăn quàng” cho gần với cách ăn mặc của người Việt, và cái tên cô bé quàng khăn đỏ đã ở lại với bạn đọc nước ta từ đó.
Nguyễn Văn Vĩnh (1882–1936) dịch tám truyện văn xuôi của Perrault thành tập Chuyện trẻ con (Wikisource ghi in lần đầu năm 1928, tái bản năm 1950), trong đó có cả “Chuyện Hằng-nga ngủ ở trong rừng”, “Chuyện con Mèo đi hia” và Cô bé Lọ Lem. Ông mất năm 1936 nên bản dịch đã hết thời hạn bảo hộ; văn bản ở trên chép theo bản số hóa trên Wikisource tiếng Việt, chỉ sửa hai lỗi in đã được đánh dấu.
Hơn một thế kỷ sau, anh em Jacob và Wilhelm Grimm đưa truyện vào bộ Truyện cổ tích cho trẻ em và gia đình (1812) với tên Rotkäppchen, đánh số 26. Bản Grimm khác bản Perrault ở mấy điểm:
- Mẹ dặn cô bé đi đúng đường, không la cà; chính sói gạ cô rẽ vào rừng hái hoa.
- Sói nuốt chửng hai bà cháu rồi ngủ ngáy; một bác thợ săn đi qua rạch bụng sói cứu cả hai, sau đó nhét đá vào bụng khiến sói chết.
- Có thêm một đoạn ngắn: con sói thứ hai lại dụ dỗ cô bé, nhưng lần này cô đi thẳng đến nhà bà và hai bà cháu cùng nhau trị được nó.
Phần lớn bản kể cho thiếu nhi ở Việt Nam hiện nay (có lời mẹ dặn, có bác thợ săn) đi theo hướng bản Grimm, dù nhiều nơi vẫn ghi tên Perrault. Trong hệ thống phân loại truyện dân gian Aarne–Thompson–Uther, truyện thuộc kiểu ATU 333.
Truyện Cô bé quàng khăn đỏ trong sách giáo khoa
Truyện là bài kể chuyện trong sách Tiếng Việt 1, tập hai, bộ Cánh diều (trang 89, phần luyện tập tổng hợp của chủ điểm Gia đình), có 6 tranh kèm câu hỏi gợi ý. Bản kể trong sách gần với hướng Grimm: mẹ dặn đi đường thẳng, có bạn Sóc nhắc nhở giữa đường, bác thợ săn rạch bụng sói cứu hai bà cháu và từ đó cô bé không dám trái lời mẹ nữa. Xem lời giải từng tranh ở bài Kể chuyện: Cô bé quàng khăn đỏ (Tiếng Việt 1 Cánh diều); cùng chủ đề con sói gian ác còn có bài kể chuyện Chó sói và cừu non trong Tiếng Việt 1 Kết nối tri thức.
Câu hỏi thường gặp
Cô bé quàng khăn đỏ là truyện của nước nào?
Truyện thuộc kho truyện kể dân gian châu Âu. Bản in sớm nhất được biết đến là của nhà văn Pháp Charles Perrault năm 1697; năm 1812 anh em Grimm ở Đức ghi lại một bản khác có bác thợ săn.
Vì sao bản Perrault không có bác thợ săn?
Perrault muốn truyện là một lời cảnh tỉnh nên để hậu quả của sự cả tin đi đến cùng. Nhân vật bác thợ săn và cảnh cứu hai bà cháu chỉ có trong bản Grimm và các bản kể theo Grimm.
Nên đọc thêm truyện nào cùng chủ đề?
Có thể đọc Ba chú heo con, truyện ngụ ngôn Sói và Dê, hoặc Nàng công chúa ngủ trong rừng, một truyện khác cũng có mặt trong tập của Perrault.