Ve sầu và kiến là bài mở đầu tập ngụ ngôn của La Fontaine, kể chuyện con ve hát suốt mùa hè rồi đến mùa đông phải sang nhà kiến vay ăn. Bài viết giới thiệu bản dịch thơ của Nguyễn Văn Vĩnh in năm 1928, kèm chú thích từ cổ, phần ý nghĩa và nguồn gốc của truyện từ thời Aesop.

Truyện Ve sầu và kiến
Ve sầu kêu ve ve,
Suốt mùa hè,
Đến kỳ gió bấc thổi,
Nguồn cơn thật bối-rối.
Một miếng cũng chẳng còn,
Ruồi bọ không một con.
Vác miệng chịu khúm-núm,
Sang chị Kiến hàng-xóm.
Xin cùng chị cho vay,
Giăm ba hạt qua ngày.
— Từ nay sang tháng hạ,
Em lại xin đem trả.
Trước thu, thề Đất Trời!
Xin đủ cả vốn lời.
Tính Kiến ghét vay cậy;
Thói ấy chẳng hề chi.
— Nắng ráo chú làm gì?
Kiến hỏi Ve như vậy.
Ve rằng:
— Luôn đêm ngày,
Tôi hát, thiệt gì bác.
Kiến rằng:
— Xưa chú hát!
Nay thử múa coi đây.
Theo La Fontaine, Nguyễn Văn Vĩnh dịch, Thơ ngụ ngôn La Fontaine (Trung Bắc tân văn, 1928)
Chú thích:
- Gió bấc: gió mùa đông bắc, báo hiệu mùa rét. Nguồn cơn: tình cảnh, đầu đuôi sự việc.
- Vác miệng chịu khúm-núm: đành mở miệng xin xỏ với dáng điệu rụt rè, hạ mình.
- Giăm ba: dăm ba, một ít. Tháng hạ: mùa hè. Vốn lời: cả tiền gốc lẫn tiền lãi.
- Vay cậy: vay mượn, nhờ vả. Thiệt gì bác: có làm hại gì đến bác đâu.
- Nay thử múa coi đây: câu mỉa, ý nói xưa đã hát thì nay cứ việc múa mà qua mùa đói.
Ý nghĩa truyện Ve sầu và kiến
Mùa nào việc nấy, phải biết lo cho ngày mai
Cái lõi của truyện là sự đối lập giữa hai mùa. Mùa hè dư dả, ve chỉ lo cất tiếng; đến lúc gió bấc nổi lên thì trong nhà “Ruồi bọ không một con”. Kiến không cần giảng giải dài dòng, chỉ hỏi một câu: lúc trời nắng ráo chú làm gì? Câu hỏi ấy chính là bài học. Người biết để dành khi còn dư thì không phải đi vay lúc thiếu; người tiêu sạch khi rủng rỉnh thì sẽ phải khúm núm gõ cửa nhà người khác.
Bài học này rất gần với đời sống hôm nay: một khoản tiết kiệm nhỏ mỗi tháng, một kế hoạch ôn thi từ đầu học kì, hay việc bảo dưỡng xe trước mùa mưa đều là cách “làm tổ trước mùa đông” mà con ve đã bỏ qua.
Lời đáp của kiến: khôn ngoan hay lạnh lùng?
La Fontaine không vẽ kiến thành nhân vật đáng yêu. Ông nói thẳng tính kiến ghét cho vay, và câu chót “Xưa chú hát! Nay thử múa coi đây” là một lời chế giễu chứ chẳng phải lời khuyên. Vì thế, nhiều người đọc thấy thương con ve hơn: nó đã hứa trả cả vốn lẫn lời, nó chỉ xin dăm ba hạt. Đọc kỹ, truyện để ngỏ cả hai mặt: lười biếng thì phải chịu hậu quả, nhưng sự cần cù cũng không nên biến thành tính ích kỷ, keo kiệt. Đây là chỗ hay để thầy cô và học sinh tranh luận khi đọc truyện trên lớp.
Nghệ thuật của bản dịch
Nguyễn Văn Vĩnh dùng câu thơ ngắn năm chữ, xen câu ba chữ “Suốt mùa hè”, gần với nhịp câu thơ La Fontaine vốn mở đầu bằng một dòng dài và một dòng cụt. Lời thoại đặt sau dấu gạch ngang như một màn kịch nhỏ, xưng hô “chị”, “em”, “chú”, “bác” rất Việt, khiến câu chuyện Pháp nghe như chuyện hàng xóm trong một xóm quê.
Nguồn gốc truyện Ve sầu và kiến
Truyện có từ kho ngụ ngôn Aesop của Hy Lạp cổ đại (số 373 trong bảng phân loại Perry). Ở bản tiếng Hy Lạp, nhân vật là con ve sầu; khi truyện lan sang các nước phương Bắc châu Âu, nơi ít ve sầu, nhiều người kể đổi thành châu chấu. Vì thế cùng một cốt truyện, ta còn gặp tên gọi “Kiến và châu chấu”, như bài thơ Kiến và châu chấu của Thái Bá Tân. Nhà thơ Nga Krylov cũng có một bản riêng, trong đó con vật mải chơi là chuồn chuồn.
La Fontaine đặt La Cigale et la Fourmi làm bài số 1, quyển I tập Fables (1668). Ở Việt Nam, Trương Minh Ký đã dịch bài này ra văn xuôi từ năm 1886. Nguyễn Văn Vĩnh dịch hai lần: bản lục bát đăng trên Đại Nam đăng cổ tùng báo năm 1907 và bản thơ ngắn đăng trên Đông Dương tạp chí năm 1914, sau in trong tập Thơ ngụ ngôn La Fontaine (1928). Văn bản trên theo bản số hóa trên Wikisource tiếng Việt, giữ cách viết có gạch nối (bối-rối, khúm-núm, hàng-xóm) của bản in cũ.
Muốn biết thêm về người được coi là ông tổ của ngụ ngôn phương Tây, bạn có thể đọc bài tác giả Ê-dốp; còn đặc điểm chung của thể loại được tóm lại ở bài truyện ngụ ngôn là gì.
Câu hỏi thường gặp
Truyện Ve sầu và kiến của ai?
Truyện có gốc từ ngụ ngôn Aesop; bản nổi tiếng nhất là bài thơ của La Fontaine (Pháp, 1668). Bản tiếng Việt ở trên do Nguyễn Văn Vĩnh dịch.
Truyện Ve sầu và kiến khuyên ta điều gì?
Truyện khuyên ta chăm chỉ, biết lo xa và để dành khi còn dư dả. Đồng thời, lời đáp mỉa mai của kiến cũng gợi suy nghĩ về lòng rộng lượng với người gặp khó.
Ve sầu và kiến khác Kiến và châu chấu ở điểm nào?
Hai tên gọi chỉ cùng một cốt truyện. Bản gốc Hy Lạp và bản La Fontaine dùng ve sầu, nhiều bản kể châu Âu và bản thơ của Thái Bá Tân dùng châu chấu. Bạn có thể đọc thêm một truyện khác về loài ve trong Sự tích con ve sầu.