Chủ nghĩa cổ điển là trào lưu văn học nghệ thuật phát triển mạnh nhất ở Pháp thế kỉ XVII, lấy văn học Hy Lạp, La Mã cổ đại làm mẫu mực, đề cao lí trí, trật tự, sự rõ ràng và tuân theo những quy tắc sáng tác chặt chẽ, nổi tiếng nhất là quy tắc “ba duy nhất” của bi kịch. Học sinh gặp chủ nghĩa cổ điển Pháp qua kịch của Coóc-nây và Mô-li-e trong sách Ngữ văn.
| Nghĩa ngắn | Trào lưu văn học Pháp thế kỉ XVII, noi theo người xưa và sáng tác theo quy tắc |
| Tên gốc | Tiếng Pháp classicisme, tiếng Anh French classicism |
| Thời kì | Thế kỉ XVII, rực rỡ nhất dưới triều vua Louis XIV |
| Tác giả tiêu biểu | Coóc-nây, Ra-xin (bi kịch); Mô-li-e (hài kịch); Boa-lô (lí luận) |
| Dấu hiệu nhận biết | Kịch giữ quy tắc thời gian, nơi chốn, hành động; nhân vật tiêu biểu cho một tính cách; lời văn mực thước |

Chủ nghĩa cổ điển và cung điện Versailles
Nước Pháp thế kỉ XVII là một vương quốc đang gom quyền về tay nhà vua. Cung đình trở thành trung tâm của cả văn hóa: Viện Hàn lâm Pháp được lập ra để chuẩn hóa tiếng Pháp, nhà nước đỡ đầu cho văn nghệ sĩ, còn cung điện Versailles của vua Louis XIV là hình mẫu của trật tự và cân đối. Văn học cũng được yêu cầu có trật tự như vậy.
Chữ “cổ điển” vì thế mang hai lớp nghĩa. Lớp thứ nhất là “noi theo cái cổ”: các nhà văn coi tác phẩm Hy Lạp, La Mã là chuẩn mực của cái đẹp, mượn đề tài, nhân vật và cả lí thuyết của Aristotle, Horace. Lớp thứ hai là “đáng làm mẫu”: những tác phẩm viết ra theo tinh thần ấy về sau lại được xem là kinh điển của văn học Pháp.
Người đúc kết lí thuyết là Boa-lô (Nicolas Boileau). Tác phẩm Nghệ thuật thơ (L’Art poétique, 1674) của ông đề cao lí trí, sự hợp lẽ, tính hữu ích về đạo đức, xếp bi kịch và sử thi vào hàng thể loại cao quý, đồng thời khuyên nhà thơ học theo người xưa. Một ý quen thuộc rút từ tác phẩm này: điều gì nghĩ cho rõ thì sẽ nói ra rõ ràng.
Coóc-nây, Ra-xin, Mô-li-e: ba chân kiềng của sân khấu
Coóc-nây và cuộc giằng co giữa tình yêu với danh dự
Coóc-nây (Pierre Corneille) viết bi kịch về những con người buộc phải chọn giữa tình cảm riêng và bổn phận, danh dự. Học sinh lớp 9 đọc đoạn trích Lơ Xít trong chủ đề “Đối diện với nỗi đau”, hướng dẫn đọc có trong bài soạn bài Lơ Xít của Coóc-nây. Nhân vật ở đây đau khổ nhưng không gào khóc; nỗi đau được nói ra bằng những lời lập luận chặt chẽ, đúng tinh thần đề cao lí trí.
Ra-xin và bi kịch của đam mê
Ra-xin (Jean Racine) đi sau Coóc-nây một thế hệ. Bi kịch của ông thường xoay quanh một đam mê mãnh liệt dẫn con người tới chỗ hủy diệt, cốt truyện gọn, ít sự kiện, lời thơ trau chuốt. Ông thường được xem là người giữ quy tắc cổ điển nghiêm cẩn nhất.
Mô-li-e và tiếng cười chĩa vào thói xấu
Mô-li-e (Molière) đưa hài kịch lên ngang hàng với bi kịch. Ông dựng những nhân vật mà chỉ nghe tên đã biết thói xấu: ông Giuốc-đanh học đòi làm quý tộc, lão Ác-pa-gông keo kiệt tới mức coi tiền hơn con. Hai nhân vật này có trong soạn bài Trưởng giả học làm sang (lớp 8) và soạn bài Tiền bạc và tình ái (lớp 12). Cuộc đời gánh hát và những lần vở diễn bị cấm của ông được kể trong bài tác giả Mô-li-e và đời gánh hát.
Nhận ra chủ nghĩa cổ điển qua những quy tắc nào?
- Quy tắc ba duy nhất. Một vở bi kịch chỉ có một hành động chính (duy nhất về hành động), diễn ra ở một nơi (duy nhất về địa điểm) và gói trong khoảng một ngày (duy nhất về thời gian). Khán giả ngồi yên một chỗ thì nhân vật cũng nên ở một chỗ, như thế mới “giống thật”.
- Giống thật và hợp lễ. Sự việc trên sân khấu phải đáng tin, và phải giữ phép lịch sự, đạo đức. Cảnh chém giết, cái chết thường không diễn trước mắt khán giả mà được kể lại qua lời nhân vật.
- Phân cấp thể loại. Bi kịch, sử thi là thể cao, viết về vua chúa, anh hùng; hài kịch là thể thấp, viết về người thường. Không trộn lẫn hai thứ trong một tác phẩm.
- Nhân vật mang tính loại hình. Mỗi nhân vật tiêu biểu cho một tính cách hay một đam mê (kẻ hà tiện, kẻ học đòi, người anh hùng trọng danh dự), ít đổi thay từ đầu đến cuối vở.
- Lời văn trong sáng, cân đối. Câu chữ chính xác, mạch lạc, tránh rườm rà; bi kịch thường viết bằng thơ có vần.
Những quy tắc này nghe có vẻ gò bó, nhưng chính khuôn khổ chặt khiến các vở kịch dồn nén, xung đột bùng lên trong thời gian rất ngắn. Đọc đặc điểm thể loại bi kịch sẽ thấy nhiều quy ước của thể loại này được định hình từ thời đó.
Cổ điển, lãng mạn và nghĩa thường của chữ “cổ điển”
| Cách dùng | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Chủ nghĩa cổ điển | Trào lưu văn học Pháp thế kỉ XVII | Kịch Coóc-nây, Ra-xin, Mô-li-e |
| Tân cổ điển | Xu hướng nghệ thuật thế kỉ XVIII quay lại tinh thần cổ đại, rõ nhất ở hội họa, kiến trúc | Tranh của Jacques-Louis David |
| Chủ nghĩa lãng mạn | Trào lưu thế kỉ XIX, phản ứng lại quy tắc cổ điển, đề cao cảm xúc và tự do sáng tạo | Kịch, thơ, tiểu thuyết Victor Hugo |
| “Cổ điển” theo nghĩa thường | Mẫu mực, kinh điển, hoặc thuộc về thời xưa | Nhạc cổ điển, văn học cổ điển Trung Quốc, thơ cổ điển Việt Nam |
Khi đề bài nói “văn học cổ điển Việt Nam”, người ta thường chỉ văn học trung đại, chẳng liên quan gì tới trào lưu Pháp. Ngược lại, nhắc “chủ nghĩa cổ điển” mà không nói thêm thì gần như luôn là nước Pháp thế kỉ XVII. Đặt lên trục thời gian thì thời kì Phục hưng ở châu Âu đến trước, mở đường cho việc quay về văn hóa cổ đại; chủ nghĩa lãng mạn đến sau và phá bỏ phần lớn quy tắc của thế kỉ XVII.
Bốn câu ôn về chủ nghĩa cổ điển
Câu 1: Chủ nghĩa cổ điển phát triển mạnh nhất ở đâu, vào thời gian nào?
Đáp án: Ở Pháp, thế kỉ XVII, rực rỡ nhất dưới triều vua Louis XIV.
Câu 2: Quy tắc ba duy nhất gồm những gì?
Đáp án: Duy nhất về hành động (một tình tiết chính), về địa điểm (một nơi) và về thời gian (trong khoảng một ngày).
Câu 3: Vì sao nói ông Giuốc-đanh là nhân vật mang tính loại hình?
Đáp án: Vì Giuốc-đanh đại diện cho một kiểu người: kẻ trưởng giả giàu có nhưng dốt nát, học đòi làm sang. Mọi hành động của nhân vật đều xoay quanh thói học đòi ấy, nên người xem nhận ra ngay kiểu người mà Mô-li-e chế giễu.
Câu 4: Trong vở bi kịch cổ điển, vì sao các cảnh chết chóc thường không diễn trên sân khấu?
Đáp án: Vì quy tắc hợp lễ (giữ phép lịch sự, đạo đức) không cho phép phô bày cảnh bạo lực trước khán giả; sự việc được nhân vật kể lại.
Câu hay khiến bài làm mất điểm là gọi Mô-li-e là nhà viết bi kịch. Tên tuổi ông gắn với hài kịch; bi kịch là phần của Coóc-nây và Ra-xin.
Cổ điển Pháp qua mấy câu học trò hay đặt
Chủ nghĩa cổ điển Pháp có đặc điểm gì?
Noi theo văn học cổ đại Hy Lạp, La Mã; đề cao lí trí; sáng tác theo quy tắc chặt (nổi bật là ba duy nhất); phân chia thể loại cao, thấp; nhân vật tiêu biểu cho một tính cách; lời văn trong sáng, mực thước.
Chủ nghĩa cổ điển trong văn học khác nghĩa “cổ điển” thông thường ra sao?
Nghĩa thông thường chỉ cái mẫu mực hoặc thuộc thời xưa, như nhạc cổ điển. Còn trong văn học sử, chủ nghĩa cổ điển là tên một trào lưu có thời gian, nơi chốn và tác giả cụ thể: nước Pháp thế kỉ XVII.
Chủ nghĩa cổ điển tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh là classicism; khi nói riêng trào lưu ở Pháp thì dùng French classicism. Tiếng Pháp gọi là classicisme.
Hài kịch của Mô-li-e có theo quy tắc cổ điển không?
Phần lớn có: nhân vật mang tính loại hình, tiếng cười nhắm vào thói xấu để răn người xem. Tuy vậy, Mô-li-e linh hoạt hơn các nhà viết bi kịch, có vở pha cả múa hát và những màn hề dân gian.