Cải lương là một lối kịch hát ra đời ở Nam Bộ vào đầu thế kỷ XX, lớn lên từ đờn ca tài tử và dân ca miền sông nước Cửu Long, nổi bật với bài vọng cổ. Tên gọi là từ Hán Việt 改良, nghĩa gốc là sửa đổi cho tốt hơn; trong lời nói thường ngày, “cải lương” đôi khi còn bị mượn để trêu ai đó kể lể, bi lụy.
| Nghĩa ngắn | Kịch hát Nam Bộ, kết hợp ca, nhạc, diễn xuất và lời thoại |
| Gốc từ | 改良: cải (đổi) + lương (tốt), tức đổi mới cho hay hơn |
| Thời điểm hình thành | Khoảng những năm 1910; mốc 1918 hay được nhắc nhưng còn tranh luận |
| Vùng miền | Nam Bộ, sau lan ra cả nước |
| Bài bản tiêu biểu | Vọng cổ, cùng nhiều điệu lý, điệu nam, điệu bắc của nhạc tài tử |

Cải lương vốn nghĩa là sửa cho tốt hơn
Trong tiếng Việt, cải lương vừa là động từ vừa là danh từ. Theo nghĩa chung, đó là cải tiến, sửa đổi cho tốt đẹp hơn, đồng nghĩa với cải cách, cải thiện. Giáo sư Trần Văn Khê giải thích tên của bộ môn sân khấu này đúng theo nghĩa ấy: người nghệ sĩ Nam Bộ đã “cải lương” nghệ thuật hát bội, đổi từ sân khấu, đề tài, lối diễn đến dàn nhạc và bài bản, đến mức cái mới khác hẳn cái cũ. Từ một động từ, chữ này trở thành tên riêng của cả một loại hình.
Một số nhà nghiên cứu còn tách chữ để giảng: “cải” là cải cách, “lương” là lương truyền, tức làm mới rồi truyền bá. Cách hiểu thứ hai này dễ nhớ, nhưng về mặt chữ Hán thì nghĩa “đổi cho tốt hơn” vẫn là nghĩa gốc.
Cũng nên phân biệt: khi gặp chữ cải lương trong sách sử với nghĩa cải cách từng phần (như cụm “chủ nghĩa cải lương”), đó là nghĩa động từ ban đầu, không liên quan tới sân khấu.
Từ chiếu đờn ca tài tử lên sân khấu
Cuối thế kỷ XIX, ở các tỉnh miền Tây và Sài Gòn có nhiều nhóm đờn ca tài tử. Họ chơi đờn, ca hát để giải trí, để giúp vui trong đám giỗ, đám cưới, ngồi trên bộ ván hay chiếu trải giữa nhà chứ chưa lên sân khấu. Rồi người ca bắt đầu đứng lên, vừa ca vừa làm điệu bộ theo nội dung bài hát, gọi là ca ra bộ. Từ lối ca ra bộ ấy, thêm cảnh trí, màn, lớp và câu chuyện có đầu có đuôi, sân khấu cải lương dần thành hình.
Năm nào cải lương ra đời thì các nhà nghiên cứu chưa thống nhất. Có ý kiến chọn năm 1916, có ý kiến chọn 1917. Mốc 1918 được nhắc nhiều nhất, gắn với các vở diễn như Gia Long tẩu quốc ở Sài Gòn hay Kim Vân Kiều ở Mỹ Tho, nhưng cũng có nhà nghiên cứu phản bác mốc này vì cho rằng thiếu cơ sở. Cách nói an toàn là cải lương hình thành trong khoảng những năm 1910 rồi phát triển rực rỡ từ thập niên 1920.
Bài vọng cổ, linh hồn của sân khấu cải lương, có gốc từ bản Dạ cổ hoài lang của nhạc sĩ Cao Văn Lầu, về sau được các thế hệ nghệ sĩ nới rộng nhịp và đặt thêm lời.
Cải lương, hát bội và chèo đặt cạnh nhau
| Tiêu chí | Cải lương | Hát bội (tuồng) | Chèo |
|---|---|---|---|
| Vùng hình thành | Nam Bộ | Có mặt nhiều vùng, mạnh ở miền Trung | Đồng bằng Bắc Bộ |
| Âm nhạc | Đờn ca tài tử, dân ca Nam Bộ, vọng cổ | Trống chầu, kèn, giọng hát mạnh | Làn điệu chèo, trống, sáo, nhị |
| Đề tài | Tuồng tích xưa và cả chuyện xã hội đương thời | Chuyện vua quan, trung nghĩa, chiến trận | Chuyện làng quê, thân phận người dân |
| Hóa trang, diễn xuất | Gần đời sống, ít ước lệ hơn | Vẽ mặt, động tác ước lệ cao | Ước lệ, giàu chất trào lộng |
Cải lương đi sau và học từ hát bội, nhưng chịu thêm ảnh hưởng kịch nói phương Tây, nên lời thoại và cách diễn gần đời thường hơn. Muốn so sâu hơn với loại hình ở miền Bắc, xem bài nghệ thuật chèo và những vở chèo cổ.
Một vở cải lương có những gì?
- Kịch bản do soạn giả viết. Có hai mảng lớn: tuồng tích (cốt truyện xưa, nhiều khi lấy từ truyện Trung Hoa hay lịch sử Việt Nam) và tuồng xã hội viết về đời sống đương thời, như các vở Đời cô Lựu, Tô Ánh Nguyệt ở thập niên 1930.
- Lời ca và lời nói. Nhân vật vừa nói thoại như kịch nói, vừa ca theo các bài bản. Đoạn cao trào thường dành cho một câu vọng cổ dài, nơi khán giả chờ giọng ca của đào, kép chính.
- Dàn đờn. Dàn cổ nhạc có đờn kìm, đờn cò, đờn tranh, đờn bầu, sáo, song lang giữ nhịp, và cây ghi-ta phím lõm đặc trưng. Có thời, đoàn hát còn thêm dàn nhạc tân cho các vở xã hội.
- Sân khấu, phục trang. Tuồng tích dùng y phục, cảnh trí gợi thời xưa; tuồng xã hội thì diễn viên ăn mặc như người ngoài đời.
Cây ghi-ta phím lõm là chi tiết thú vị: người Nam Bộ khoét sâu phần phím của cây đàn phương Tây để nhấn, rung được như đàn dân tộc. Câu chuyện ấy có trong văn bản thông tin Đàn ghi-ta phím lõm trong dàn nhạc cải lương.
Cải lương trong trang sách Ngữ văn
Học sinh gặp cải lương chủ yếu qua văn bản thông tin. Ngoài bài về cây đàn ghi-ta phím lõm, sách Ngữ văn có bản tin về nhà hát cải lương Trần Hữu Trang khánh thành phòng truyền thống, mang tên một soạn giả lớn của sân khấu này. Khi viết bài văn thuyết minh về một loại hình nghệ thuật truyền thống, cải lương là đề tài dễ triển khai vì có đủ nguồn gốc, đặc điểm, nhạc cụ và nghệ sĩ tiêu biểu.
Một câu dùng từ đúng: “Tối nào ông nội cũng mở radio nghe cải lương, đến câu vọng cổ là gõ nhịp theo.” Còn câu “đi xem một bài cải lương” thì chưa chuẩn: cải lương là cả một vở diễn, còn thứ được ca là một bài vọng cổ hay một trích đoạn.
Vọng cổ, trích đoạn và chữ “cải lương” ngoài sân khấu
Cải lương và vọng cổ có phải là một?
Không. Vọng cổ là một bài bản âm nhạc, còn cải lương là loại hình sân khấu có diễn viên, kịch bản, cảnh trí. Một vở cải lương thường có nhiều câu vọng cổ, nhưng ca vọng cổ một mình trong buổi đờn ca thì chưa phải diễn cải lương.
Cải lương có nguồn gốc từ đâu?
Từ Nam Bộ, cụ thể là từ đờn ca tài tử và lối ca ra bộ ở các tỉnh miền Tây và Sài Gòn, cộng với những điều học được từ hát bội và kịch nói phương Tây.
Nói ai đó “cải lương quá” là sao?
Trong khẩu ngữ, nhiều người mượn chữ này để trêu một người than thở dài dòng, làm quá chuyện buồn, giống những đoạn kể lể bi thương trên sân khấu. Cách nói này mang sắc thái đùa, đôi khi hơi chê, gần với lời chê sến súa, sướt mướt; nên tránh dùng khi nói về chính bộ môn nghệ thuật.
Cải lương tiếng Anh là gì?
Sách báo tiếng Anh thường giữ nguyên tên cai luong kèm giải thích, hoặc dịch là Vietnamese reformed theatre, bám theo nghĩa “đổi mới” của tên gọi.