Chạng vạng là lúc trời mờ mờ, tranh tối tranh sáng, khi mặt trời vừa lặn mà đêm chưa xuống hẳn; người ta cũng dùng cho quãng nhá nhem trước lúc mặt trời mọc. Nói “trời chạng vạng” hay “chạng vạng tối” là nói giờ mắt bắt đầu nhìn không rõ mặt người, đèn đường chưa kịp bật.
| Nghĩa ngắn | Lúc trời nhá nhem, sáng không ra sáng, tối chưa ra tối |
| Loại từ | Tính từ; cũng dùng như danh từ chỉ thời điểm (“lúc chạng vạng”) |
| Gốc từ | Từ thuần Việt |
| Đồng nghĩa | nhá nhem, chập choạng, nhập nhoạng, nhọ mặt người |
| Tiếng Anh | twilight; riêng buổi chiều là dusk |

Chạng vạng là lúc nào trong ngày?
Hình dung một buổi chiều ở quê: mặt trời đã khuất sau rặng tre, nhưng trời phía tây vẫn còn một vệt sáng nhạt. Con đường đất vẫn nhìn ra, có điều người đi ngược chiều chỉ còn là cái bóng. Đó là chạng vạng. Từ điển xếp chạng vạng vào nhóm tính từ chỉ trời đất lúc nhá nhem, và ghi hai thời điểm: nhá nhem tối, ngay sau khi mặt trời lặn, và nhá nhem sáng, khi mặt trời sắp mọc.
Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, nghĩa buổi chiều chiếm gần hết. “Chạng vạng mới về tới nhà”, “đi từ chạng vạng” đều là chuyện buổi tối. Muốn nói buổi sớm, người ta thường thêm chữ: chạng vạng sáng, chạng vạng sớm, hoặc chuyển hẳn sang tờ mờ sáng, rạng đông.
Từ này không có chữ Hán đi kèm. Hai tiếng chạng và vạng đứng riêng không mang nghĩa gì về thời gian; chúng chỉ gợi được cái mờ mịt khi đi liền nhau, giống kiểu chập choạng, nhập nhoạng trong cùng nhóm.
Ba nấc chạng vạng của các nhà thiên văn
Với người làm khoa học, chạng vạng là khoảng thời gian mặt trời đã ở dưới đường chân trời nhưng ánh sáng của nó vẫn bị bầu khí quyển tán xạ xuống mặt đất. Họ chia làm ba nấc, tính theo độ sâu của tâm mặt trời dưới chân trời:
| Nấc | Mặt trời ở dưới chân trời | Trời trông thế nào |
|---|---|---|
| Chạng vạng dân dụng | Từ 0° đến 6° | Còn đủ sáng để đi lại, đọc chữ ngoài trời; sao Hôm hiện ra |
| Chạng vạng hàng hải | Từ 6° đến 12° | Đường chân trời trên biển nhòe đi, thấy được các sao sáng |
| Chạng vạng thiên văn | Từ 12° đến 18° | Gần như tối hẳn với mắt thường |
Quá 18°, trời mới thật là đêm. Ở vùng gần xích đạo như Việt Nam, mặt trời lặn gần như thẳng đứng, nên quãng chạng vạng dân dụng ngắn, chỉ độ vài chục phút; lên các nước gần cực, mùa hè có khi chạng vạng kéo dài suốt đêm. Dân chụp ảnh gọi một phần quãng này là “giờ xanh”, khi bầu trời ngả màu lam thẫm.
Bóng xế tà, phố huyện và giờ chim về tổ
Thơ văn Việt rất chuộng thời khắc này, vì nó là lúc lòng người dễ chùng xuống. Bà Huyện Thanh Quan mở bài thơ nổi tiếng bằng một câu chỉ thời điểm:
Bước tới đèo Ngang, bóng xế tà,
“Xế tà” là lúc mặt trời đã ngả hẳn về tây, ngay trước chạng vạng. Cảnh cỏ cây, tiều phu, chợ thưa phía sau đều nhuốm cái ánh sáng sắp tắt ấy, và nỗi nhớ nước thương nhà cũng từ đó mà dâng lên. Bài soạn Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan chỉ rõ thời điểm này góp vào tâm trạng ra sao.
Truyện Hai đứa trẻ của Thạch Lam lại đi trọn một vòng chạng vạng: từ tiếng trống thu không, ráng đỏ phía tây, đến khi phố huyện chìm vào bóng tối và chỉ còn ngọn đèn con của chị Tí. Ánh sáng mờ dần chính là cái khung để Liên nhìn cuộc sống quẩn quanh nơi phố nhỏ; xem câu hỏi đọc hiểu Hai đứa trẻ. Còn trong bài Chiều tối (Mộ), Hồ Chí Minh vẽ cánh chim mỏi bay về rừng và chòm mây lững lờ, rồi đặt vào đó lò than rực hồng của cô gái xay ngô, một đốm ấm giữa lúc trời đất sắp tối.
Muốn đọc thêm những bài thơ chọn đúng giờ mặt trời xuống, có tuyển thơ về hoàng hôn và bình minh.
Nhá nhem, hoàng hôn, nhọ mặt người: gần mà không trùng
| Từ | Chỗ khác | Ví dụ |
|---|---|---|
| Chạng vạng | Nhấn vào ánh sáng lờ mờ, lưng chừng | Chạng vạng, xóm chài mới lục tục kéo thuyền lên bãi. |
| Nhá nhem | Gần như đồng nghĩa, thiên về cảm giác mắt nhìn không rõ | Trời nhá nhem, tôi suýt bước hụt bậc thềm. |
| Hoàng hôn | Từ Hán Việt (黃昏), chỉ lúc mặt trời lặn và màu trời chiều; trang trọng, giàu chất thơ hơn | Hoàng hôn trên phá Tam Giang đỏ rực. |
| Nhọ mặt người | Khẩu ngữ, tả đúng lúc không còn nhận ra mặt nhau | Đến nhọ mặt người cả nhà mới gặt xong. |
| Rạng đông, bình minh | Trái nghĩa theo cặp sáng – tối: lúc trời bắt đầu sáng | Rạng đông, gà trong xóm gáy dồn. |
Hai từ hay bị dùng lẫn nhất là chạng vạng và hoàng hôn. Hoàng hôn có thể rực rỡ, đầy màu; chạng vạng thì đã qua phần rực rỡ ấy, chỉ còn cái xám. Câu “hoàng hôn tím ngắt” nghe tự nhiên, còn “chạng vạng tím ngắt” thì hơi lạ tai.
Một chỗ dễ viết sai: nhiều người gõ thành “chạn vạng” hay “chạng vạn”. Cả hai tiếng đều có âm cuối “ng”, và đều mang thanh nặng.
Chạng vạng sáng, chạng vạng tối và bộ truyện Twilight
Chạng vạng nghĩa là gì, sáng hay tối?
Cả hai, nhưng nghĩa buổi tối phổ biến hơn hẳn. Nói trống “lúc chạng vạng” thì gần như ai cũng hiểu là chiều tối; muốn chỉ buổi sớm nên nói rõ “chạng vạng sáng”.
Chạng vạng là mấy giờ?
Không có giờ cố định, vì nó đi theo giờ mặt trời lặn. Ở Việt Nam, quãng chạng vạng buổi tối rơi vào khoảng từ sau 17 giờ đến gần 19 giờ, sớm vào mùa đông và muộn vào mùa hè, và chỉ kéo dài chừng vài chục phút.
Chạng vạng tiếng Anh là gì?
Từ chung là twilight. Riêng chạng vạng buổi chiều là dusk, còn quãng mờ sáng trước bình minh thường gọi là dawn hoặc morning twilight.
Chạng vạng có phải tên một bộ truyện không?
Có. Bộ tiểu thuyết Twilight về ma cà rồng của Stephenie Meyer được Nhà xuất bản Trẻ dịch và phát hành ở Việt Nam với tên chung Chạng vạng, các tập sau là Trăng non, Hừng đông… Tên ấy gợi đúng cái thế giới lưng chừng giữa ngày và đêm của truyện.