Ca trù là lối hát thơ cổ truyền của miền Bắc, trong đó nữ ca nương hát và tự gõ phách giữ nhịp, có người đàn đáy và người cầm trống chầu đi cùng. Ca trù còn có tên gọi khác là hát ả đào, hát cô đầu, hát nhà tơ, hát nhà trò. Năm 2009, UNESCO ghi danh ca trù vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp.
| Nghĩa ngắn | Nghệ thuật hát thơ có đàn đáy, phách và trống chầu |
| Chữ Hán | 歌籌: ca là hát, trù là cái thẻ |
| Tên gọi khác | Hát ả đào, hát cô đầu, hát nhà tơ, hát nhà trò |
| Vùng | Các tỉnh phía Bắc Việt Nam |

Ca trù còn có những tên gọi nào?
Đây là thắc mắc của rất nhiều học sinh khi gặp câu trắc nghiệm về di sản. Một loại hình mà có tới bốn, năm cái tên, vì mỗi tên ra đời ở một giai đoạn hoặc gắn với một nơi hát khác nhau.
- Hát ả đào: gọi theo người hát. “Ả đào” là cách gọi người phụ nữ làm nghề hát; về sau chữ “đào” (cô đào, đào hát) mở rộng ra chỉ nữ diễn viên nói chung.
- Hát cô đầu: “cô đầu” là cách gọi biến âm từ “cô đào”. Đầu thế kỷ 20, cái tên này phổ biến ở thành thị, gắn với các nhà hát cô đầu.
- Hát nhà tơ, hát nhà trò: những tên gọi dân gian khác, được các tài liệu về di sản ghi lại cùng với hai tên trên.
- Ca trù: tên Hán Việt, được dùng rộng rãi trên sách báo từ khoảng thập niên 1990 và trở thành tên chính thức trong hồ sơ di sản.
Còn chữ “trù” nghĩa là gì? Chữ 籌 là cái thẻ. Người nghe thấy câu nào hay thì ném thẻ tre thưởng cho đào hát, hết buổi đếm thẻ để trả tiền. “Ca trù” vì thế có nghĩa đen là lối hát có thưởng thẻ.
Một chiếu ca trù có những ai?
Một buổi hát ca trù tối thiểu có ba người, mỗi người giữ một vai riêng:
| Người | Việc | Nhạc cụ |
|---|---|---|
| Ca nương (đào nương) | Hát, tự giữ nhịp | Cỗ phách: thanh tre gõ lên bàn gỗ nhỏ |
| Kép đàn | Đệm đàn theo giọng hát | Đàn đáy, cây đàn ba dây cần dài |
| Quan viên | Nghe, chấm câu, khen chê bằng tiếng trống | Trống chầu |
Ca nương ngồi giữa chiếu, kép đàn và quan viên ngồi hai bên. Điều thú vị nằm ở người cầm trống: quan viên không phải người biểu diễn mà là khán giả sành nghe, nhiều khi chính là người viết lời. Một tiếng trống đúng lúc là lời khen, gõ lệch nhịp có khi lại là lời chê.
Ca trù không chỉ có một làn điệu. Hồ sơ UNESCO ghi nhận tới 56 thể cách khác nhau. Trong đó hát nói là thể quen thuộc và giàu chất văn chương nhất, bên cạnh những lối như hát giai, thét nhạc, gửi thư.
Ca trù từ đình làng đến hồ sơ UNESCO
Đến nay vẫn chưa xác định được lối hát này ra đời chính xác vào thời nào. Xưa kia ca trù được hát ở đình làng trong dịp lễ, hát trong cung đình, rồi ở các ca quán, nhà hát nơi phố thị. Người hát và người đàn tổ chức thành giáo phường, truyền nghề trong dòng họ.
Sang nửa sau thế kỷ 20, ca trù gần như vắng bóng: lớp nghệ nhân già dần, người trẻ ít theo học, lại thêm định kiến coi nghề hát là thấp kém (xem thêm câu xướng ca vô loài từ đâu ra). Phải đến các liên hoan và câu lạc bộ ca trù cuối thập niên 1990, đầu những năm 2000, lối hát này mới được nhắc tới nhiều trở lại.
Ngày 1/10/2009, UNESCO đưa ca trù vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Chữ “khẩn cấp” cho thấy nguy cơ mai một là có thật. Muốn hiểu vì sao loại di sản này mong manh, có thể đọc phần giải thích về di sản phi vật thể và ví dụ.
Hát nói và các nhà thơ Việt
Ca trù gắn chặt với văn chương vì lời hát chính là thơ. Thể hát nói có khuôn riêng, thường gồm những câu dài ngắn đan xen, xen chữ Hán với chữ Nôm, và nhiều nhà nho đã mượn thể này để nói chí. Nguyễn Công Trứ là cái tên tiêu biểu nhất: “Bài ca ngất ngưởng” trong chương trình Ngữ văn THPT chính là một bài hát nói. Chất ngông trong bài ấy được giải thích kỹ ở bài nghĩa của chữ ngất ngưởng trong bài hát nói.
Nhiều bài hát nói khác của các nhà nho thế kỷ 19 vẫn được giới ca trù hát đến bây giờ. Vì thế, trong âm nhạc cổ truyền, ca trù là chỗ thơ và nhạc đi liền với nhau rõ nhất.
Vì vậy, trong giờ văn, khi gặp chú thích “thể hát nói”, bạn có thể hình dung bài thơ ấy vốn được viết ra để ca nương cất lên trên chiếu hát, giữa tiếng phách giòn và tiếng trống chầu chấm câu.
Ca trù, ả đào, cô đầu trong đề trắc nghiệm
“Ca trù” còn có tên gọi khác là gì?
Ca trù còn được gọi là hát ả đào, hát cô đầu, hát nhà tơ hoặc hát nhà trò. Trong các câu trắc nghiệm, đáp án thường gặp nhất là “hát ả đào” hoặc “hát cô đầu”.
Ca trù được UNESCO công nhận năm nào?
Năm 2009, ca trù được ghi vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp. Chữ “khẩn cấp” phân biệt danh sách này với danh sách di sản đại diện của nhân loại.
Ca trù khác hát nói ở đâu?
Ca trù là cả loại hình nghệ thuật, còn hát nói chỉ là một thể cách trong ca trù. Có thể hình dung hát nói như một “khuôn” thơ, còn ca trù là cả chiếu hát với người hát, người đàn và người cầm chầu.
Ả đào trong ca trù có phải kỹ nữ không?
Không nên đồng nhất. Ả đào là người hát chuyên nghiệp, được học nghề công phu. Về sau, ở một số nhà hát cô đầu thời thuộc địa, nghề hát bị biến tướng nên chữ “ả đào”, “cô đầu” mang tiếng không hay; tên “ca trù” dần được dùng thay trên sách báo.