Bẽn lẽn là có dáng vẻ rụt rè, lúng túng, thiếu tự nhiên vì thẹn hoặc vì chưa quen người, quen chỗ. Từ này tả cái ngại ngùng hiện ra bên ngoài: nụ cười mím lại, mắt nhìn xuống, tay mân mê vạt áo. Sắc thái thường nhẹ nhàng, dễ thương, hay dùng để tả trẻ nhỏ, thiếu nữ, người mới đến.
| Nghĩa ngắn | Rụt rè, ngượng ngập vì thẹn hoặc chưa quen |
| Loại từ | Tính từ; từ láy thuần Việt |
| Đồng nghĩa | Thẹn thùng, e thẹn, ngượng ngùng, e lệ |
| Trái nghĩa | Tự nhiên, dạn dĩ, bạo dạn |

Bẽn lẽn là cái thẹn hiện ra mặt
Thẹn là cảm xúc ở bên trong; bẽn lẽn là lúc cảm xúc ấy lộ ra thành dáng điệu. Vì thế từ điển giải nghĩa từ này bằng chữ “dáng điệu” và “vẻ”: người bẽn lẽn là người mà ai nhìn vào cũng thấy họ đang ngượng.
Có hai nguyên do thường gặp. Một là thẹn: được khen trước đông người, gặp người mình thích, bị trêu đúng chỗ. Hai là chưa quen: đứa trẻ mới về nhà ông bà, nhân viên ngày đầu đi làm, cô dâu bước vào nhà chồng. Cả hai đều là trạng thái thoáng qua; quen rồi, hết thẹn rồi thì hết bẽn lẽn.
Hai tiếng của từ này đều mang dấu ngã. Ai hay phân vân giữa hai dấu có thể xem bài bẽn lẽn viết dấu gì cho đúng.
Như gái mới về nhà chồng
Người xưa có câu so sánh rất đắt: bẽn lẽn như gái mới về nhà chồng. Cô dâu ngày đầu ở nhà chồng chưa biết chỗ để đồ, chưa quen giọng người lớn, muốn làm gì cũng ngập ngừng, ai hỏi cũng đỏ mặt. Một hình ảnh gói đủ cả hai nguồn của bẽn lẽn: vừa thẹn vừa lạ.
Trong văn miêu tả, từ này hay đứng cạnh những động từ tả cử chỉ nhỏ: bẽn lẽn cười, bẽn lẽn cúi đầu, bẽn lẽn đáp. Vài câu ở những hoàn cảnh khác nhau:
- Được cô giáo đọc bài văn trước lớp, thằng bé bẽn lẽn gãi đầu, mặt đỏ tới mang tai.
- Cậu sinh viên năm nhất bẽn lẽn đứng nép ở cửa phòng thí nghiệm, chưa dám bước vào.
- Cái Na bẽn lẽn núp sau lưng mẹ, chỉ dám ló nửa mặt chào khách.
- Lần đầu cầm micro hát trước họ hàng, chú rể bẽn lẽn như một cậu học trò.
Mẹo cho bài văn tả người: đừng viết trơn “cô bé bẽn lẽn”. Hãy cho người đọc thấy cái bẽn lẽn qua một chi tiết, như ngón tay xoắn vạt áo hay đôi mắt cứ liếc xuống mũi dép. Bẽn lẽn là từ láy vần (hai tiếng cùng vần “ẽn”), mang sẵn nhạc điệu nhẹ, đặt cạnh một chi tiết thật thì câu văn rất sống; cách nhận diện kiểu láy này có ở bài từ láy và cách nhận ra chúng.
Thẹn thùng, rụt rè hay bẽn lẽn?
| Từ | Khác bẽn lẽn ở đâu |
|---|---|
| Thẹn thùng, e thẹn | Nhấn vào cảm giác xấu hổ nhẹ bên trong; gần nghĩa nhất |
| E lệ | Thường chỉ dành cho con gái, có vẻ duyên dáng, kín đáo |
| Ngượng ngùng | Lúng túng vì thấy không hợp, không thoải mái; dùng cho mọi tuổi |
| Rụt rè | Ngại làm, ngại nói vì thiếu tự tin; không nhất thiết có thẹn |
| Nhút nhát | Là tính cách lâu dài, dễ sợ hãi; bẽn lẽn chỉ là trạng thái nhất thời |
| Dạn dĩ, bạo dạn | Trái nghĩa: tự nhiên, không ngại trước người lạ |
Chỗ dễ nhầm nhất là coi bẽn lẽn như một nét tính cách. Một người rất hoạt bát vẫn có lúc bẽn lẽn khi được tỏ tình; ngược lại, người ít nói chưa chắc đã bẽn lẽn. Người trầm, thích ở một mình thuộc chuyện khác hẳn, xem bài tính hướng nội và người sống trầm.
Cũng đừng dùng bẽn lẽn cho tình huống nghiêm trọng. “Bị bắt quả tang gian lận, cậu ta bẽn lẽn” nghe lạc giọng, vì từ này mang nét dễ thương; chỗ ấy phải là “xấu hổ”, “cúi gằm mặt”.
Rụt rè đứng cạnh e dè, khép nép ra sao và chữ nào đối lại nó, có bảng gọn ở đồng nghĩa, trái nghĩa với rụt rè.
Giới trẻ có chữ lóng tẻn tẻn cho cái ngượng nghịu mà vẫn vui, như khi được khen bất ngờ, nghe nhẹ và tinh nghịch hơn bẽn lẽn.
Bẽn lẽn trong bài tập tiếng Việt
Bẽn lẽn nghĩa là gì trong văn tả người?
Là dáng vẻ ngượng ngập, mắc cỡ hiện ra qua nét mặt và cử chỉ: cười mím môi, cúi đầu, nói lí nhí. Từ này giúp người đọc hình dung nhân vật đang thẹn mà không cần kể dài.
Bẽn lẽn là từ láy hay từ ghép?
Là từ láy. Hai tiếng “bẽn” và “lẽn” giống nhau ở phần vần và cùng thanh ngã, khác nhau ở phụ âm đầu, nên xếp vào nhóm láy vần.
Từ đồng nghĩa với bẽn lẽn là gì?
Gần nhất có thẹn thùng, e thẹn, ngượng ngùng, e lệ, mắc cỡ (khẩu ngữ Nam Bộ). Trái nghĩa có dạn dĩ, bạo dạn, tự nhiên.
Đặt câu với từ bẽn lẽn sao cho tự nhiên?
Ghép từ với một cử chỉ cụ thể: “Nhận bó hoa, chị bẽn lẽn cười rồi vội quay đi.” Câu có hành động đi kèm bao giờ cũng tự nhiên hơn câu chỉ nói “chị rất bẽn lẽn”.