Bao cấp là cách Nhà nước cấp phát, phân phối và trả công gần như trọn gói cho cán bộ, nhân viên và người dân mà không tính đến hiệu quả kinh tế tương ứng. Khi người Việt nói “thời bao cấp”, họ thường nghĩ tới khoảng 1976–1986, những năm mua gạo, thịt, vải phải có tem phiếu và sổ gạo, trước khi đất nước bước vào Đổi mới.
| Nghĩa ngắn | Nhà nước bao trọn việc cấp phát, phân phối, không đòi hỏi hiệu quả tương ứng |
| Gốc từ | Hai yếu tố Hán Việt: bao 包 (bọc, gói trọn) + cấp 給 (cấp, phát) |
| Loại từ | Động từ; “chế độ bao cấp”, “thời bao cấp” là cách dùng như danh từ |
| Mốc thường nhắc | Thời bao cấp trên cả nước: khoảng 1976–1986 |

Bao cấp: Nhà nước lo trọn gói
Hai chữ đã nói gần hết nghĩa. Bao là bọc lại, gói trọn, như trong bao bọc, bao trọn. Cấp là cấp phát, như trong cấp vốn, cấp học bổng. Ghép lại, bao cấp là cơ quan nhà nước đứng ra lo, phát, chia cho người lao động mà không bắt mỗi phần chia ấy phải sinh ra hiệu quả tương xứng.
Từ điển xếp bao cấp là động từ, với ví dụ quen thuộc là “chế độ bao cấp” và “cơ chế quản lí kinh tế quan liêu bao cấp”. Ở nghĩa lịch sử, cụm này chỉ cách vận hành nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung: Nhà nước giao chỉ tiêu cho xí nghiệp, cấp vốn và vật tư, nhận lại sản phẩm; làm lỗ thì ngân sách bù, có lãi thì Nhà nước thu.
Chữ này vẫn còn được dùng tới hôm nay, theo nghĩa rộng hơn. Báo chí nói “xóa bao cấp trong y tế”, “tư duy bao cấp”, “bao cấp qua giá” để chỉ những chỗ Nhà nước vẫn bù tiền hoặc người ta vẫn quen trông chờ được cấp.
Sổ gạo, tem phiếu và những hàng người xếp dài
Đời sống thời bao cấp có vài dấu hiệu mà người lớn tuổi nhắc tới gần như ngay lập tức.
- Tem phiếu: thịt, cá, đường, nước mắm, vải vóc, dầu hỏa… phải có phiếu mới mua được, mỗi người một định mức. Phiếu chia theo đối tượng: cán bộ, công nhân, người ăn theo được mức khác nhau.
- Sổ gạo: mỗi hộ có sổ ghi số khẩu và lượng lương thực được mua, gắn với chế độ hộ khẩu.
- Cửa hàng mậu dịch: hàng hóa do Nhà nước phân phối; người dân xếp hàng từ sớm, có khi đến lượt thì hàng đã hết.
- Chợ đen: mua bán tự do bị hạn chế, hàng ngoài luồng ít và đắt; ai không dùng hết tem phiếu thường mang ra bán lại.
- Ăn độn: gạo thiếu nên phải trộn thêm ngô, khoai, sắn, bo bo vào bữa cơm.
Năm 2011, trong triển lãm về 25 năm Đổi mới tại Hà Nội, những tấm phiếu mua thịt, cuốn sổ đăng kí mua lương thực được trưng bày như hiện vật lịch sử. Với thế hệ sinh sau 1990, tấm tem phiếu là đồ của bảo tàng; với ông bà họ, đó là thứ phải giữ kĩ hơn cả tiền.
Vì sao có cơ chế bao cấp, và nó để lại gì?
Hoàn cảnh ra đời. Ở miền Bắc, kinh tế đã vận hành theo kiểu chỉ huy từ sau 1954. Sau khi đất nước thống nhất, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung được đưa ra cả nước, theo mô hình chung của các nước xã hội chủ nghĩa thời đó. Trong cảnh hàng hóa khan hiếm sau chiến tranh, phân phối theo định mức được xem là cách chia đều phần ít ỏi đang có.
Điều được ghi nhận. Trong những năm vừa ra khỏi chiến tranh, cơ chế này cho phép dồn nguồn lực vào vài mục tiêu lớn và giữ cho đời sống xã hội ổn định ở mức tối thiểu. Khoảng cách giàu nghèo khi ấy cũng được nhiều người nhớ là khá nhỏ.
Mặt hạn chế. Khi lương được quy ra hiện vật và làm nhiều hay ít cũng nhận như nhau, động lực sản xuất giảm. Giá cả không phản ánh cung cầu, hàng hóa thiếu, đồng tiền mất giá dần, đến giữa thập niên 1980 thì lạm phát tăng phi mã. Năm 1986, Việt Nam bắt đầu công cuộc Đổi mới, từng bước chuyển sang kinh tế thị trường; tem phiếu thưa dần rồi khép lại cả một thời kì.
Bao cấp, trợ cấp, bao tiêu khác nhau thế nào?
| Từ | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Bao cấp | Nhà nước lo trọn, cấp phát không tính hiệu quả | Thời bao cấp; tư duy bao cấp |
| Trợ cấp | Khoản hỗ trợ thêm cho một đối tượng cụ thể | Trợ cấp thôi việc; trợ cấp khó khăn |
| Bao tiêu | Cam kết mua hết sản phẩm làm ra | Doanh nghiệp bao tiêu đầu ra cho nông dân |
| Bao thầu | Nhận làm trọn một việc, một công trình | Bao thầu cả phần xây thô |
Ba từ cùng chữ “bao” dễ làm người viết trượt tay. Trợ cấp là phần thêm, có điều kiện, không thay cho thu nhập chính; bao cấp là lo gần như toàn bộ. Viết “trợ cấp tem phiếu” hay “thời trợ cấp” là sai.
Chữ bao cấp trong trang văn SGK
Trong bài nghị luận Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới (Vũ Khoan, đăng năm 2001), khi kể những điểm yếu người Việt cần bỏ để bước vào thế kỉ XXI, tác giả nhắc tới thói quen ỷ lại kiểu bao cấp bên cạnh định kiến với nghề buôn bán. Đọc bài này mà biết thời tem phiếu, học sinh sẽ hiểu vì sao “quen bao cấp” bị coi là gánh nặng: thói trông chờ được cấp làm người ta ngại tự xoay xở. Bố cục và câu hỏi của bài có ở trang soạn bài Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới.
Ở góc rộng hơn, giới nghiên cứu văn học cũng hay lấy mốc chuyển từ bao cấp sang thị trường để giải thích vì sao văn chương sau 1986 đổi giọng, như bài văn học Việt Nam đổi mới trong cơ chế thị trường.
Tem phiếu, Đổi mới và chữ bao cấp hôm nay
Thời bao cấp là năm nào?
Thường được tính từ 1976 đến 1986 trên phạm vi cả nước. Ở miền Bắc, cơ chế này đã có từ trước đó nhiều năm, nhưng giai đoạn 1976–1986 là lúc nó hiện rõ nhất.
Tem phiếu thời bao cấp là gì?
Là những tấm phiếu Nhà nước phát để mua nhu yếu phẩm theo định mức: phiếu thịt, phiếu vải, phiếu chất đốt… Có tiền mà không có phiếu thì gần như không mua được hàng ở cửa hàng mậu dịch.
Tư duy bao cấp nghĩa là gì?
Là lối nghĩ trông chờ người khác hay cấp trên lo cho mình, ngại tự chủ và ngại chịu trách nhiệm về kết quả. Cụm từ này vẫn hay gặp trên báo khi bàn về quản lí, giáo dục, doanh nghiệp.
Bao cấp tiếng Anh là gì?
Thời bao cấp thường được dịch là the subsidy period hoặc the subsidy era; cơ chế bao cấp gần với state subsidy system trong một nền planned economy.