Bài thơ về tiểu đội xe không kính là bài đọc 1 (Chia sẻ và đọc) mở đầu Bài 12 (Những người dũng cảm) trong sách Tiếng Việt lớp 4 Cánh diều tập 2, trang 17–19. Bài viết gợi ý trả lời 2 câu Chia sẻ về lòng dũng cảm và 5 câu hỏi Đọc hiểu đoạn trích bài thơ của Phạm Tiến Duật.

Chia sẻ (trang 17)
Câu 1 (trang 17): Quan sát tranh và đọc tên các bài thơ, câu chuyện dưới đây. Hãy đoán xem bài thơ, câu chuyện ấy nói về hành động dũng cảm nào:
a) Dũng cảm trong lao động.
b) Dũng cảm trong chiến đấu.
c) Dũng cảm trong bảo vệ lẽ phải.
Ba tranh trong sách: Bài thơ về tiểu đội xe không kính (chiếc xe quân sự phủ lá ngụy trang chạy giữa khói bom), Xả thân cứu đoàn tàu (bác lái tàu trong buồng lái), Sự thật là thước đo chân lí (nhà bác học bên chiếc kính thiên văn).
Trả lời:
- Bài thơ về tiểu đội xe không kính → b) Dũng cảm trong chiến đấu: các chiến sĩ lái xe chở hàng ra mặt trận, bất chấp bom đạn.
- Xả thân cứu đoàn tàu → a) Dũng cảm trong lao động: người lái tàu liều mình giữ phanh để cứu hành khách.
- Sự thật là thước đo chân lí → c) Dũng cảm trong bảo vệ lẽ phải: nhà bác học Ga-li-lê dám bảo vệ điều mình đã chứng minh là đúng.
Câu 2 (trang 17): Trao đổi về một số biểu hiện của lòng dũng cảm ở học sinh:
a) Khi thấy bản thân mình mắc lỗi.
b) Khi thấy bạn làm điều sai trái.
c) Khi thấy cần bảo vệ lẽ phải.
Trả lời:
- a) Dám nhận lỗi trước thầy cô, bố mẹ; không đổ lỗi cho bạn; xin lỗi và sửa sai.
- b) Nhẹ nhàng nhắc bạn dừng lại; nếu bạn không nghe thì báo cho thầy cô hoặc người lớn.
- c) Mạnh dạn nói lên ý kiến đúng; bênh vực bạn bị bắt nạt; không làm theo số đông khi số đông sai.
Đọc (trang 18): Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Nhà thơ Phạm Tiến Duật (1941–2007) từng là người lính trên tuyến đường Trường Sơn thời kháng chiến chống Mỹ. Bài thơ viết năm 1969 về những người lính lái xe vận tải chở hàng ra chiến trường. Sách trích 4 khổ thơ:
- Khổ 1: kính xe bị bom đạn làm vỡ, người lính vẫn bình thản ngồi lái.
- Khổ 2: không có kính chắn, gió, sao trời, cánh chim như ùa thẳng vào buồng lái.
- Khổ 3: gặp mưa thì ướt áo, nhưng người lính vẫn lái tiếp, đợi gió hong khô.
- Khổ 4: những chiếc xe đi qua bom đạn họp lại thành tiểu đội, đồng đội chào nhau thân thiết.
Giải nghĩa từ:
- Tiểu đội: nhóm nhỏ nhất trong quân đội, khoảng từ 6 đến 12 người.
- Ung dung: thong thả, bình tĩnh, không vội vã hay lo sợ.
- Sa (trong bài): rơi, bay vào.
- Buồng lái: chỗ người lái xe ngồi điều khiển xe.
Gợi ý đọc: giọng đọc vui, khoẻ khoắn, tự nhiên như lời trò chuyện; nhấn vào các từ chỉ bom đạn, mưa gió và các từ chỉ thái độ bình thản của người lính.
Nội dung chính đoạn trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Đoạn trích ca ngợi những người lính lái xe trên đường Trường Sơn: dù xe không còn kính, phải đi qua mưa bom, mưa gió, họ vẫn dũng cảm, lạc quan, yêu đời và gắn bó với đồng đội.
Lên lớp trên, em sẽ gặp lại văn bản này trong môn Ngữ văn; bài phân tích Bài thơ về Tiểu đội xe không kính giúp em tìm hiểu kĩ hơn.
Đọc hiểu (trang 19)
Câu 1 (trang 19): Các chiến sĩ trong bài thơ làm nhiệm vụ gì?
Trả lời: Họ là chiến sĩ lái xe vận tải, ngày đêm đưa lương thực, vũ khí, hàng hoá qua đường Trường Sơn vào chiến trường miền Nam.
Câu 2 (trang 19): Những chiếc xe của họ có gì khác thường? Vì sao?
Trả lời: Những chiếc xe ấy không có kính chắn gió. Xe vốn có kính, nhưng bom nổ, đất rung đã làm kính vỡ hết.
Câu 3 (trang 19): Tìm những hình ảnh, từ ngữ nói lên khó khăn, nguy hiểm mà các chiến sĩ phải trải qua.
Trả lời:
- Bom đạn: “Bom giật, bom rung”, kính vỡ đi rồi, xe đi từ trong bom rơi.
- Thời tiết: gió xoa mắt đắng; mưa tuôn, mưa xối làm ướt áo.
- Đường xa: người lính phải lái tiếp hàng trăm cây số khi áo còn ướt.
Câu 4 (trang 19): Thái độ của các chiến sĩ trước khó khăn, nguy hiểm được miêu tả ở mỗi khổ thơ nói lên điều gì?
Trả lời:
- Khổ 1: “Ung dung buồng lái ta ngồi”, mắt nhìn thẳng phía trước → bình tĩnh, hiên ngang, không sợ hãi.
- Khổ 2: thấy cả gió, con đường, sao trời, cánh chim → tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, thấy vẻ đẹp ngay giữa gian khổ.
- Khổ 3: mưa ướt áo vẫn chưa cần thay, cứ lái tiếp → coi thường khó khăn, lạc quan, vui vẻ.
- Khổ 4: gặp đồng đội là bắt tay nhau qua khung cửa không kính → tình đồng chí, đồng đội gắn bó, ấm áp.
Tất cả cho thấy người lính lái xe rất dũng cảm, lạc quan và yêu nước.
Câu 5 (trang 19): Chủ đề của bài thơ là gì?
Trả lời: Bài thơ ca ngợi lòng dũng cảm, tinh thần lạc quan và tình đồng đội của những chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Cùng chủ điểm Những người dũng cảm, phần Tự đánh giá: Bông hồng thép lớp 4 Cánh diều kể về nữ anh hùng tình báo Đinh Thị Vân.
Gợi ý học bài: em đọc to cả 4 khổ thơ trong SGK trang 18, gạch chân những từ ngữ tả bom đạn, mưa gió và những từ ngữ tả thái độ của người lính để thấy rõ sự đối lập giữa gian khổ và tinh thần lạc quan.
Đọc tiếp bài đọc 2 cùng chủ điểm: Xả thân cứu đoàn tàu.