Bài luận là bài viết trong đó người viết đưa ra một vấn đề, nêu quan điểm của mình và dùng lí lẽ, bằng chứng để bàn cho rõ đúng sai, nên hay không nên. Trong nhà trường, bài luận là một dạng bài văn nghị luận, như bài luận thuyết phục hay bài luận về bản thân ở lớp 10. Trong hồ sơ du học, bài luận là bài tự giới thiệu, tương đương chữ essay của tiếng Anh.
| Khái niệm | Bài viết bàn về một vấn đề, có quan điểm riêng và lí lẽ, bằng chứng |
| Chữ “luận” | 論: bàn bạc, xem xét sự việc rồi nói cho rõ phải trái |
| Thuộc | Văn nghị luận (trong nhà trường); bài viết tuyển sinh, học thuật (ngoài nhà trường) |
| Dấu hiệu nhận biết | Có vấn đề cần bàn, có ý kiến của người viết, có lập luận |
| Tiếng Anh | essay (đôi khi composition khi nói về bài làm văn ở trường) |

Bài luận, nhìn từ chữ “luận”
Chữ luận (論) trong Hán Việt là bàn bạc, xem xét một việc rồi nói cho rõ phải trái; gặp trong bàn luận, thảo luận, dư luận. Thiều Chửu còn ghi riêng một nét nghĩa về lối văn: đem một vấn đề ra mổ xẻ cho thấy lợi hại, nên chăng thì gọi là bài luận. Định nghĩa ấy viết từ thế kỉ trước, đến giờ vẫn đúng với bài luận học sinh viết trên lớp.
Từ điển tiếng Việt giảng ngắn hơn: bài luận là bài văn làm theo một đề luận. Hai cách giảng gộp lại cho ta ba thành phần không thể thiếu: một vấn đề, một ý kiến về vấn đề đó, và cách bàn để người đọc thấy ý kiến ấy có lí.
Chữ essay của tiếng Anh có một lai lịch khác. Nó đi từ động từ tiếng Pháp essayer, nghĩa là thử. Nhà văn Pháp Montaigne ở thế kỉ XVI đặt tên cho tập sách của mình là Essais, tức những lần thử đặt suy nghĩ lên trang giấy. Tiếng Việt dịch essay khi thì là bài luận, khi thì là tiểu luận, tùy độ dài và tính chất.
Ba dấu hiệu để biết mình đang viết một bài luận
- Có một câu hỏi để trả lời. Nên hay không nên thức khuya học bài? Mình là người thế nào? Mạng xã hội giúp hay hại? Thiếu câu hỏi thì bài viết dễ thành kể chuyện hoặc tả.
- Có tiếng nói của người viết. Bài luận phải đứng về một phía chứ không dừng ở việc liệt kê thông tin, nói được “tôi cho rằng”. Ý kiến chính ấy chính là luận đề, ý lớn bao trùm cả bài, được chia nhỏ thành các luận điểm.
- Có lập luận. Mỗi ý kiến đi kèm lí lẽ (vì sao) và bằng chứng (ở đâu, ai, bao nhiêu). Thiếu phần này, bài viết chỉ là lời khẳng định suông.
Ngoài ra, bài luận thường có bố cục ba phần: mở bài nêu vấn đề, thân bài triển khai các luận điểm, kết bài khẳng định lại và mở rộng. Bố cục này không phải luật cứng, nhưng giúp người đọc theo kịp.
Các kiểu bài luận thường gặp
| Kiểu | Mục đích | Ví dụ đề |
|---|---|---|
| Bài luận thuyết phục | Làm người đọc đổi ý hoặc đổi việc làm | Thuyết phục bạn bỏ thói quen trì hoãn |
| Bài luận bàn về một vấn đề | Phân tích, đánh giá một hiện tượng, tư tưởng | Bàn về lối sống “sống ảo” |
| Bài luận về bản thân | Giới thiệu mình qua trải nghiệm, phẩm chất, mục tiêu | Điều làm nên con người tôi hôm nay |
| Bài luận học thuật | Trình bày lập luận có dẫn nguồn trong một môn học | Vai trò của tục ngữ trong giáo dục gia đình |
| Bài luận tuyển sinh, xin học bổng | Cho hội đồng thấy bạn là ai và vì sao hợp với trường | Kể một thất bại đã thay đổi bạn |
Bài luận về bản thân và bài luận tuyển sinh giống nhau ở chỗ được phép kể chuyện riêng. Nhưng câu chuyện chỉ là bằng chứng; điều cần chứng minh vẫn là một ý kiến về chính mình.
Bài luận trong sách Ngữ văn 10
Chương trình Ngữ văn mới đưa chữ “bài luận” vào thẳng tên các bài viết ở lớp 10, nên học sinh gặp từ này sớm và thường xuyên.
Bài luận thuyết phục từ bỏ một thói quen hay quan niệm
Ở sách Kết nối tri thức, phần Viết của Bài 3 (tập một) yêu cầu viết bài luận thuyết phục người khác từ bỏ một thói quen hay một quan niệm. Trước phần Viết, học sinh đọc ba văn bản nghị luận, trong đó có bài văn bia Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, để học cách sắp luận đề, luận điểm, lí lẽ và bằng chứng. Cái khó của kiểu bài này là người đọc đang có thói quen ấy, nên giọng văn phải vừa chắc lí lẽ vừa không lên lớp. Một câu như “Mình cũng từng lướt điện thoại tới hai giờ sáng” thường thuyết phục hơn mười câu “Thức khuya là có hại”. Tham khảo dàn ý và các bài mẫu thuyết phục bỏ một thói quen.
Bài luận về bản thân
Đề “Viết bài luận về bản thân” có trong sách Chân trời sáng tạo (tập hai) và Cánh diều lớp 10. Học sinh phải chọn một vài nét nổi bật của mình và chứng minh bằng trải nghiệm thật, thay vì kể lí lịch. Người viết giỏi thường chỉ chọn một câu chuyện nhỏ, như lần đầu tự đi xe buýt lên thành phố, rồi từ đó rút ra mình là người thế nào. Có thể đọc mười một bài tự giới thiệu mẫu cho lớp 10 để thấy cách chọn chuyện.
Bài luận khác bài văn nghị luận, tiểu luận, luận văn ra sao?
| Tiêu chí | Bài luận | Tiểu luận | Luận văn |
|---|---|---|---|
| Ai viết | Học sinh, sinh viên, người nộp hồ sơ | Sinh viên, người nghiên cứu, nhà văn | Học viên cao học (thạc sĩ) |
| Độ dài | Ngắn, một vài trang | Trung bình, có thể vài chục trang | Dài, chia chương |
| Đòi hỏi | Quan điểm rõ, lập luận chặt | Tìm hiểu một vấn đề, có tài liệu tham khảo | Nghiên cứu có phương pháp, có đóng góp mới |
| Ví dụ | Bài luận về bản thân | Tiểu luận cuối kì môn Văn học dân gian | Luận văn thạc sĩ về thơ Nguyễn Bính |
Còn “bài văn nghị luận” là tên gọi rộng của cả kiểu văn bàn bạc trong nhà trường; bài luận nằm trong đó. Nói cách khác, mọi bài luận ở trường đều là bài nghị luận, nhưng từ “bài luận” nghe gần với đời sống hơn và hay dùng cho đề có mục đích thực tế. Ranh giới với tiểu luận được giải thích kĩ trong bài viết về đặc điểm của tiểu luận.
Luyện tập: nhận diện và viết bài luận
Câu 1: Đề nào dưới đây yêu cầu viết một bài luận?
a) Tả cảnh sân trường giờ ra chơi. b) Có nên cấm học sinh dùng điện thoại trong giờ ra chơi? c) Kể lại một chuyến đi đáng nhớ.
Đáp án: Đề b. Đề này nêu một vấn đề có hai phía, đòi người viết phải chọn quan điểm và chứng minh. Đề a là miêu tả, đề c là tự sự.
Câu 2: Đoạn mở bài sau thiếu yếu tố nào của một bài luận: “Điện thoại thông minh ra đời cách đây khá lâu. Nó có nhiều chức năng như gọi điện, chụp ảnh, nghe nhạc.”?
Đáp án: Thiếu vấn đề cần bàn và ý kiến của người viết. Đoạn văn chỉ cung cấp thông tin. Có thể sửa: “Chiếc điện thoại giúp ta học nhanh hơn, nhưng cũng đang lấy đi giờ ngủ của nhiều bạn trẻ. Theo tôi, vấn đề không nằm ở điện thoại mà ở cách ta đặt giới hạn cho nó.”
Câu 3: Xác định luận đề trong câu: “Thói quen trì hoãn không phải do lười, mà do ta sợ làm không tốt.”
Đáp án: Luận đề là: trì hoãn bắt nguồn từ nỗi sợ làm không tốt, chứ không đơn thuần do lười. Cả bài luận sẽ phải chứng minh nhận định này.
Câu 4: Chỉ ra điểm chưa ổn khi một bạn mở đầu bài luận về bản thân bằng: “Em tên là…, sinh năm…, học lớp 10A1, sở thích là đọc sách, nghe nhạc, chơi thể thao.”
Đáp án: Đây là lời khai lí lịch, chưa phải bài luận. Bài luận về bản thân cần một nhận định về mình (ví dụ “Tôi là người học được nhiều nhất từ những lần thua”) và các trải nghiệm làm bằng chứng.
Câu 5: Viết ba câu nêu lí lẽ và một câu dẫn bằng chứng cho luận điểm “Đọc sách giấy giúp tập trung tốt hơn”.
Đáp án tham khảo: Lí lẽ: sách giấy không có thông báo bật lên làm đứt mạch đọc; cầm cuốn sách, ta chỉ làm một việc; số trang còn lại hiện rõ khiến ta có cảm giác đi được đến đâu. Bằng chứng: “Tuần trước, tôi đọc hết một cuốn tiểu thuyết trong hai buổi tối, điều chưa từng làm được với bản điện tử trên điện thoại.”
Bài luận ở lớp 10 và ở hồ sơ du học
Bài luận nghĩa là gì trong hồ sơ du học, xin học bổng?
Là bài viết ngắn mà trường hoặc quỹ học bổng yêu cầu, để hội đồng hiểu bạn là ai, bạn đã trải qua gì và vì sao bạn hợp với chương trình. Đề thường mở, độ dài do từng nơi quy định. Điểm cốt lõi vẫn giống bài luận ở trường: một ý chính về bản thân, chứng minh bằng câu chuyện thật.
Bài luận tiếng Anh là gì?
Là essay. Bài luận xin học thường được gọi là personal essay hoặc application essay; bài luận nghị luận là argumentative essay.
Bài luận về bản thân là gì?
Là bài luận lấy chính người viết làm vấn đề: tôi là ai, điều gì làm nên tôi, tôi muốn đi đâu. Nó khác bản tự giới thiệu ở chỗ phải có nhận định và bằng chứng, không chỉ liệt kê thông tin.
Bài luận có cần chia mở bài, thân bài, kết bài không?
Ở trường thì nên, vì đó là cách người chấm dễ theo dõi nhất. Bài luận tuyển sinh có thể linh hoạt hơn, mở bằng một cảnh, một câu thoại, miễn là người đọc vẫn thấy rõ ý chính và mạch lập luận.
Thử kiểm tra bài của mình bằng một câu hỏi: nếu bỏ hết dẫn chứng đi, phần còn lại có nói được một điều mình tin không? Nếu có, đó là bài luận.