Anh là từ thuần Việt chỉ người con trai cùng thế hệ nhưng ở hàng trên mình trong gia đình, dòng họ (anh ruột, anh họ), đồng thời là từ xưng hô với người đàn ông trẻ, ngang tuổi, hoặc giữa người yêu, vợ chồng. Ngoài ra còn một chữ anh Hán Việt khác hẳn (英), nghĩa là hoa, tinh hoa, tài giỏi, có trong anh hùng, tinh anh, tên riêng và tên nước Anh.
| Nghĩa ngắn | Người con trai sinh trước mình cùng thế hệ; từ gọi người đàn ông trẻ hoặc người yêu, chồng |
| Loại từ | Danh từ chỉ quan hệ thân tộc, dùng làm từ xưng hô (đại từ lâm thời) |
| Chữ đồng âm | Hán Việt 英: hoa, tinh túy, người tài; nước Anh |
| Từ đối ứng | Em (hàng dưới), chị (nữ, hàng trên) |

Anh trong nhà, anh ngoài phố
Ít từ tiếng Việt nào đổi vai nhiều như chữ anh. Ở nhà, nó chỉ một người cụ thể trong gia phả. Ra đường, nó thành lời gọi lịch sự với một người lạ. Trong một tin nhắn, nó lại là tiếng gọi thân mật nhất. Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, có thể gom thành bốn cách dùng chính:
- Quan hệ họ hàng: người con trai cùng thế hệ nhưng thuộc hàng trên, như sinh trước mình hoặc là con nhà bác. Ví dụ: anh ruột, anh họ, anh vợ.
- Gọi người đàn ông còn trẻ hoặc ngang tuổi, ngang vai với mình. Ví dụ: Nhờ anh chỉ giúp em đường ra bến xe.
- Trong tình yêu, hôn nhân: người phụ nữ gọi chồng, người yêu là anh; người đàn ông cũng tự xưng anh khi nói với vợ, người yêu.
- Cha mẹ gọi con rể, con trai đã lớn theo cách gọi của các con nhỏ trong nhà, để tỏ ý coi trọng. Ví dụ: Anh Tư về rồi đấy à?
Vì dùng được ở ngôi thứ nhất (anh tự xưng), ngôi thứ hai (gọi người đối diện) lẫn ngôi thứ ba (anh ấy), ngữ pháp xếp anh vào nhóm danh từ thân tộc dùng như đại từ; bài đại từ nhân xưng và danh từ xưng hô giải thích rõ hơn cơ chế này.
Gọi chồng là anh từ đâu mà có?
Ngày nay vợ gọi chồng là anh nghe rất tự nhiên, nhưng đầu thế kỉ XX thì chưa phổ biến khắp nơi. Phan Kế Bính, trong sách Việt Nam phong tục (1915), ghi lại khá nhiều lối vợ chồng gọi nhau: nhà sang trọng gọi cậu mợ, nhà thường gọi anh chị, có con rồi thì gọi theo tên con. Ông ghi riêng một dòng về một vùng ở miền Trung:
Ở Quảng-Nam thì vợ gọi chồng là anh, chồng gọi vợ là em.
Nhiều người dẫn câu này để cho rằng cặp xưng hô anh – em giữa vợ chồng lan ra từ đó. Câu chữ của sách chỉ cho biết đó là lối gọi riêng của Quảng Nam lúc bấy giờ, còn chuyện lan ra cả nước thế nào thì chưa có tài liệu nói rõ. Dù sao, từ văn xuôi đến bài hát, cặp anh – em đã thành cách xưng hô quen thuộc nhất của tình yêu trong tiếng Việt. Những bài thơ đùa với cái tên Anh cũng dựa vào chính sự trùng âm ấy, như loạt thơ thả thính người tên Anh.
Anh, em, chị và các từ ghép quanh chữ anh
| Từ | Nghĩa | Ghi chú |
|---|---|---|
| Anh ruột / anh trai | Con trai cùng cha mẹ, sinh trước mình | “Anh trai” nhấn vào giới tính, phân biệt với “chị gái” |
| Anh họ | Con trai của bác (hoặc vai trên) trong họ | Có thể nhỏ tuổi hơn mình mà vẫn là anh, vì tính theo vai |
| Anh rể | Chồng của chị gái mình | Xem bài anh rể, em rể và cách xưng hô bên vợ |
| Anh cả / anh Hai | Người con trai đầu | Miền Bắc nói anh cả, miền Nam thường gọi anh Hai |
| Em, chị | Từ đối ứng: em ở hàng dưới, chị là nữ ở hàng trên | “Anh em” còn chỉ chung tình thân, như “anh em bạn dì” |
Một điều dễ nhầm: anh theo vai chứ không chỉ theo tuổi. Con của bác dù kém tuổi mình vẫn là anh họ. Ngược lại, ngoài xã hội, chữ anh lại theo tuổi và sự lịch sự: người lớn hơn vài tuổi, hoặc người lạ mà mình muốn tỏ ý tôn trọng. Mạng xã hội còn mượn thêm những lời gọi anh từ tiếng nước ngoài như tiếng gọi bro của dân mạng, nhưng sắc thái và quy tắc dùng đều khác.
英: chữ anh của hoa và người tài
Chữ anh Hán Việt (英) không liên quan gì tới anh trong nhà, chỉ trùng âm. Thiều Chửu giảng nghĩa gốc là hoa của cây cỏ, từ đó vật gì tốt đẹp khác thường cũng gọi là anh; nghĩa tiếp theo là tài năng hơn người, và chất tinh túy của sự vật. Họ từ của nó khá đông:
- Chỉ người tài: anh hùng, anh hào, anh kiệt, anh tài, anh thư.
- Chỉ cái tinh túy, sáng sủa: tinh anh, anh hoa, anh linh, anh tuấn.
- Tên cây, khoáng vật: bồ công anh (蒲公英), thạch anh (石英).
Tên nước Anh cũng từ chữ này. Người Hoa phiên âm England thành Anh Cát Lợi (英吉利), đọc theo âm Hán Việt; người Việt rút gọn còn Anh, rồi có tiếng Anh, người Anh, nước Anh. Nói về ý nghĩa tên Anh: khi đặt tên con là Anh (Tuấn Anh, Phương Anh, Quỳnh Anh), cha mẹ thường gửi vào đó nghĩa “tinh anh, giỏi giang” của chữ 英, dùng được cho cả con trai lẫn con gái.
Vì thế, câu “Anh tôi học tiếng Anh” có hai chữ anh đứng cạnh nhau mà không hề họ hàng: chữ đầu thuần Việt, chữ sau là phiên âm qua chữ Hán.
Chữ anh khi đổi sang chữ Hán, tiếng Anh và tên người
Anh trong tiếng Hán là gì?
Nếu là chữ trong tên người, trong anh hùng, tinh anh thì là 英. Còn “anh trai” theo nghĩa họ hàng, tiếng Trung dùng chữ khác là 哥 (gē), “anh cả” là 大哥.
Anh tiếng Anh là gì?
Anh trai là brother, nói rõ hơn là older brother hoặc big brother. Khi chữ anh là lời gọi người đối diện, tiếng Anh dùng đại từ you, vì không có từ xưng hô theo thứ bậc như tiếng Việt.
Tên Anh có ý nghĩa gì?
Tên Anh mượn nghĩa chữ 英: thông minh, tài giỏi, nổi trội. Đây là tên đặt được cho cả nam và nữ; tên đệm đi kèm thường quyết định sắc thái, như Tuấn Anh nghiêng về vẻ mạnh mẽ, Ngọc Anh nghiêng về vẻ dịu dàng.
Vì sao con bác nhỏ tuổi hơn mà vẫn phải gọi là anh?
Vì trong họ hàng, người Việt xưng hô theo vai vế của cha mẹ chứ không theo tuổi của chính mình. Bác là anh của bố mẹ mình, nên con của bác đứng ở hàng trên, dù sinh sau vẫn là anh, là chị.