Âm lịch là cách tính ngày tháng theo tuần trăng: mỗi tháng bắt đầu từ ngày không trăng, rằm là lúc trăng tròn, một tháng dài 29 hoặc 30 ngày. Người Việt còn gọi là lịch âm, lịch ta. Thật ra thứ lịch ta vẫn xem để biết mùng một, ngày rằm, ngày Tết là âm dương lịch, vì năm của nó vẫn được kéo cho khớp với mùa nhờ tháng nhuận.
| Nghĩa | Lịch tính tháng theo chu kỳ Mặt Trăng quanh Trái Đất |
| Gốc từ | Hán Việt 陰曆: âm (mặt trăng, thái âm) + lịch (phép tính ngày tháng) |
| Tên gọi khác | Lịch âm, lịch ta; tên chính xác về thiên văn là âm dương lịch |
| Dùng vào | Tết Nguyên đán, rằm, mùng một, ngày giỗ, nhiều lễ hội làng |

Âm lịch có thật chỉ theo Mặt Trăng?
Có hai cách hiểu, và người Việt dùng lẫn cả hai.
Theo nghĩa hẹp, âm lịch là lịch thuần túy theo Mặt Trăng. Mặt Trăng đi hết một vòng quanh Trái Đất mất khoảng 29 ngày rưỡi, nên tháng có tháng đủ 30 ngày, tháng thiếu 29 ngày; mười hai tháng cộng lại chỉ chừng 354 ngày. Lịch Hồi giáo là ví dụ điển hình của kiểu lịch này: năm ngắn hơn năm Mặt Trời khoảng 11 ngày, nên tháng lễ cứ trôi dần qua các mùa, có năm rơi vào mùa hè, có năm lại sang mùa đông.
Theo nghĩa thông thường ở Việt Nam, âm lịch là tên gọi quen miệng của âm dương lịch. Tháng vẫn tính theo trăng, nhưng cứ hai, ba năm lại chèn thêm một tháng nhuận để năm lịch không bị lệch khỏi mùa. Nhờ vậy Tết luôn rơi vào cuối đông đầu xuân, tháng Chạp luôn rét. Từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi cả hai nghĩa này. Cách chọn tháng nào được nhuận khá rắc rối, có riêng một bài giải thích về cách tính năm nhuận âm lịch và dương lịch.
Lịch ta và lịch tây khác nhau chỗ nào?
| Tiêu chí | Âm lịch (lịch ta) | Dương lịch (lịch tây) |
|---|---|---|
| Căn cứ | Tuần trăng; năm điều chỉnh theo Mặt Trời | Trái Đất quay quanh Mặt Trời |
| Độ dài tháng | 29 hoặc 30 ngày | 28 đến 31 ngày |
| Độ dài năm | Khoảng 354–355 ngày; năm nhuận có 13 tháng | 365 ngày; năm nhuận 366 ngày |
| Nhìn trời đoán ngày | Được: trăng tròn là khoảng ngày rằm | Không |
| Dùng cho | Lễ Tết, giỗ chạp, mùa vụ cổ truyền | Hành chính, học tập, giao dịch |
Điểm tiện nhất của lịch ta là có thể đọc ngày trên bầu trời. Đêm trăng tròn vành vạnh thì gần rằm; trăng khuyết hình lưỡi liềm cuối tháng thì sắp sang tháng mới. Ông bà ngày xưa không cần tờ lịch vẫn biết hôm nào đi chợ phiên, hôm nào cúng rằm.
Dương lịch thì ăn khớp với mùa từng ngày, nên các tiết khí như Đông chí hay Thanh minh, vốn tính theo vị trí Mặt Trời, luôn rơi vào cùng một khoảng ngày dương lịch. Ví dụ Đông chí gần như năm nào cũng vào 21 hoặc 22 tháng 12, như bài ngày đêm dài nhất năm có nhắc.
Lịch ta có phải là lịch Trung Quốc?
Âm lịch Việt Nam có cùng nguyên tắc với nông lịch Trung Hoa, cũng dùng can chi và mười hai con giáp. Nhưng có hai chỗ riêng khiến lịch ta không phải là bản chép.
Thứ nhất là giờ tính. Lịch được tính theo kinh tuyến của nước mình. Lịch Việt Nam hiện tính theo múi giờ thứ bảy (UTC+7), còn lịch Trung Quốc tính theo giờ Bắc Kinh (UTC+8). Một giờ chênh nghe nhỏ, nhưng khi thời điểm trăng mới rơi sát nửa đêm, nó đủ đẩy mùng một sang ngày khác. Trường hợp nổi tiếng nhất là năm 1985: Tết Ất Sửu ở Việt Nam là ngày 21 tháng 1, còn ở Trung Quốc là ngày 20 tháng 2, lệch nhau tròn một tháng, đến khi lịch ta có tháng nhuận thì hai bên mới khớp lại.
Thứ hai là con giáp. Chi Mão của người Việt là con mèo, trong khi ở Trung Quốc là con thỏ; chi Sửu được hình dung là con trâu thay vì con bò. Vì sao lại có mười hai con vật canh giữ mười hai năm, dân gian kể bằng cả một câu chuyện, ở bài sự tích 12 con giáp.
Những ngày người Việt vẫn tính theo lịch âm
Đời sống hành chính chạy theo dương lịch, nhưng nhịp lễ nghi trong gia đình thì vẫn bám lịch ta:
- Tết và các ngày tết trong năm: Tết Nguyên đán mùng một tháng Giêng, Tết Nguyên tiêu rằm tháng Giêng, Tết Đoan ngọ mùng năm tháng Năm, Trung thu rằm tháng Tám, ông Công ông Táo hăm ba tháng Chạp.
- Mùng một và ngày rằm hằng tháng: nhiều nhà thắp hương, ăn chay hoặc đi chùa vào hai ngày này.
- Ngày giỗ: tính theo ngày âm lịch người mất. Vì thế mỗi năm ngày giỗ rơi vào một ngày dương lịch khác nhau, con cháu ở xa phải xem lịch để về cho kịp.
- Sinh nhật của ông bà: nhiều người lớn tuổi chỉ nhớ ngày sinh theo lịch âm, nên con cháu vẫn mừng thọ theo ngày âm.
- Lễ hội làng, mùa vụ: phần lớn lễ hội truyền thống ghi ngày theo lịch âm; tục ngữ nhà nông cũng hay gắn việc đồng áng với tháng âm.
Lịch treo tường ở Việt Nam vì thế gần như luôn in hai dòng: số to là ngày dương, số nhỏ bên dưới là ngày âm. Riêng tháng cuối năm âm lịch có tên gọi riêng là tháng Chạp, với cả chuỗi lễ cúng tiễn năm cũ, xem thêm ở bài tháng Chạp và các lễ cuối năm.
Một lỗi hay gặp khi nhắn lịch hẹn: viết “mùng 5” mà không nói rõ âm hay dương. Với ngày giỗ, ngày cưới, chỉ cần thêm hai chữ “âm lịch” là tránh được cả họ hàng về sai ngày.
Âm lịch trong vài tình huống thường ngày
Âm lịch và âm dương lịch khác nhau thế nào?
Âm lịch thuần chỉ theo Mặt Trăng, năm khoảng 354 ngày và không quan tâm mùa. Âm dương lịch tính tháng theo trăng nhưng thêm tháng nhuận để năm khớp với Mặt Trời. Lịch người Việt dùng là loại thứ hai, dù quen gọi là âm lịch.
Âm lịch một năm có bao nhiêu ngày?
Năm thường có 12 tháng, khoảng 354 hoặc 355 ngày. Năm nhuận có 13 tháng, dài khoảng 383 đến 385 ngày.
Vì sao Tết âm lịch mỗi năm rơi vào một ngày dương lịch khác nhau?
Vì mùng một Tết phụ thuộc vào ngày trăng mới, mà chu kỳ trăng không khớp với tháng dương lịch. Nhờ tháng nhuận, Tết chỉ dao động trong khoảng từ ngày 21 tháng 1 đến ngày 20 tháng 2 dương lịch.
Âm lịch tiếng Anh là gì?
Thường gọi là lunar calendar. Gọi cho chính xác thì lịch Việt là lunisolar calendar, và Tết có thể gọi là Lunar New Year hoặc giữ nguyên chữ Tết.