Xúng xính là từ láy gợi dáng một người, thường là trẻ con, hớn hở trong bộ quần áo đẹp, mới, hơi rộng và dài, đi đứng như muốn khoe. Nghe “xúng xính váy áo” là thấy ngay không khí ngày Tết, ngày hội. Từ này mang sắc thái vui, thân mật; ít khi dùng để tả người lớn trong bộ đồ vừa vặn.
| Nghĩa ngắn | Hài lòng, hớn hở trong bộ đồ diện, rộng và dài |
| Loại từ | Tính từ, từ gợi tả dáng điệu |
| Cấu tạo | Từ láy âm đầu “x”: xúng + xính |
| Hay đi với | váy áo, quần áo mới, áo dài, ngày Tết, ngày hội |

Xúng xính tả dáng người thế nào?
Từ này không tả bộ quần áo, mà tả người đang mặc nó. Bộ từ điển của Viện Ngôn ngữ học gói nghĩa vào ba điều cùng lúc: người ấy tỏ ra hài lòng; quần áo rộng và dài; nhưng là đồ sang, đồ diện. Thiếu một vế là chữ xúng xính không còn đúng nữa.
Thú vị là một từ điển cũ khác lại nhìn từ phía ngược lại: người mặc hơi lúng túng trong bộ đồ sang mà rộng dài. Hai cách giảng cộng lại cho ra đúng hình ảnh quen thuộc: đứa bé mặc bộ áo dài may “cho lớn trước”, vạt áo lòa xòa, bước đi còn vướng nhưng mặt mày rạng rỡ.
- Mồng Một Tết, mấy đứa cháu xúng xính áo dài đỏ đi chúc Tết ông bà.
- Buổi diễn văn nghệ cuối năm, các bạn nữ lớp Một xúng xính trong váy xòe, tay cầm quạt giấy.
- Con bé lấy áo sơ mi của bố mặc vào, xúng xính đi khắp nhà đòi chụp ảnh.
Gần nghĩa với lượt là, bảnh bao, thướt tha
| Từ | Tả cái gì | Khác xúng xính ở đâu |
|---|---|---|
| Diện, diện đẹp | Mặc đồ đẹp để đi đâu đó | Chỉ nói việc mặc, không gợi dáng điệu |
| Lượt là | Ăn mặc toàn đồ lụa là, sang trọng | Hơi chê, ngụ ý chưng diện |
| Bảnh bao | Ăn mặc chỉnh tề, chải chuốt | Thường nói về nam giới, đồ vừa vặn |
| Thướt tha | Dáng mềm mại, uyển chuyển | Khen dáng người, nhất là thiếu nữ mặc áo dài |
| Thùng thình | Quần áo quá rộng | Chỉ nói độ rộng, không có vẻ vui, vẻ diện |
Trái nghĩa với xúng xính là các từ tả lối ăn mặc lôi thôi: luộm thuộm, lôi thôi, nhếch nhác, rách rưới. Còn cách viết thì hay bị lẫn x với s; chữ đúng có ở bài phân biệt xúng xính với súng sính.
Tiếng xúng, tiếng xính ghép theo lối láy
Hai tiếng giống nhau ở phụ âm đầu “x”, khác vần (ung và inh), cùng mang thanh sắc. Đó là kiểu láy âm đầu, xếp trong nhóm từ láy bộ phận lặp phụ âm đầu. Đứng riêng, “xúng” và “xính” không mang nghĩa gì liên quan đến quần áo; nghĩa chỉ hiện ra khi hai tiếng đi liền nhau.
Vì là từ gợi tả, xúng xính hợp với văn tả người, tả cảnh lễ hội. Học sinh tả không khí Tết có thể dùng nó thay cho câu khô “các bạn mặc quần áo mới”. Có điều, đừng đặt từ này cạnh một chú rể mặc vest may đo vừa khít: thiếu cái vẻ lòa xòa, hớn hở của trẻ nhỏ, câu văn sẽ thành lệch nghĩa.
Xúng xính ngày Tết, ngày hội và trong bài văn tả
Xúng xính nghĩa là gì trong câu “xúng xính váy áo”?
Là ăn mặc váy áo đẹp, mới, thường hơi rộng, với vẻ vui thích như đang được đi hội. Cụm này hay xuất hiện trong bài báo, bài văn tả ngày Tết, ngày khai giảng, lễ hội đường phố.
Xúng xính là từ láy gì?
Là từ láy bộ phận, kiểu láy âm đầu: hai tiếng chung phụ âm “x”, khác phần vần. Xét theo nghĩa, nó thuộc nhóm từ gợi hình vì giúp người đọc hình dung dáng điệu của người mặc.
Có thể dùng xúng xính để tả người lớn không?
Được, nhưng câu thường mang nét hài hước hoặc trìu mến, ví dụ “cả nhà xúng xính đi ăn cưới”. Tả một người lớn mặc đồ vừa vặn, lịch sự thì nên chọn “chỉnh tề” hay “bảnh bao”.