Xã hội hóa là quá trình một con người, qua tiếp xúc với người khác, học dần ngôn ngữ, phong tục, chuẩn mực và vai trò của mình để sống được trong xã hội. Đó là nghĩa của ngành xã hội học. Trên báo chí Việt Nam, từ này còn có nghĩa thứ hai: huy động người dân, doanh nghiệp cùng Nhà nước góp sức làm giáo dục, y tế, văn hóa, như “xã hội hóa giáo dục”.
| Nghĩa 1 (xã hội học) | Quá trình cá nhân học cách sống như một thành viên của xã hội, kéo dài suốt đời |
| Nghĩa 2 (chính sách) | Huy động nguồn lực của cộng đồng cùng Nhà nước làm một lĩnh vực công |
| Gốc từ | Hán Việt 社會化: xã hội + hóa (trở thành) |
| Tiếng Anh | Socialization (nghĩa 1); nghĩa 2 thường dịch theo ngữ cảnh |

Xã hội hóa là quá trình gì?
Một đứa trẻ sinh ra chưa biết chào ai, chưa biết xếp hàng, chưa biết thế nào là xấu hổ. Hai mươi năm sau, nó đã nói được tiếng mẹ đẻ, biết cách cư xử ở đám cưới khác ở đám tang, biết mình là con, là học trò, là nhân viên. Quãng đường ấy, các nhà xã hội học gọi là xã hội hóa.
Các giáo trình xã hội học coi đây là một quá trình diễn ra suốt cả đời người: mỗi người vừa lớn lên về năng lực, vừa thấm dần văn hóa của cộng đồng quanh mình. Xã hội hóa không dừng lại khi ta trưởng thành; người đi làm lần đầu, người chuyển ra nước ngoài, người về hưu đều phải học lại một phần cách sống.
Chữ hóa trong từ này giống trong đô thị hóa, hiện đại hóa: biến thành, trở thành. Xã hội hóa, theo mặt chữ, là “trở thành người của xã hội”. Kết quả của quá trình đó là nhân cách riêng của mỗi người, không ai giống ai dù cùng lớn lên trong một nền văn hóa.
Xã hội hóa giáo dục, y tế là chuyện khác hẳn
Nghĩa thứ hai gần như chỉ có trong tiếng Việt hành chính và báo chí. Ở đây “xã hội hóa” không nói về một con người mà về một lĩnh vực: việc vốn do Nhà nước lo nay mở ra để cả xã hội cùng tham gia, cùng góp tiền, góp công, góp ý.
Chủ trương này được Chính phủ nêu thành văn bản riêng trong Nghị quyết 90/CP ngày 21/8/1997 về phương hướng và chủ trương xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa. Trong đời sống, người ta gặp nó ở những chỗ rất cụ thể: trường tư thục, phòng khám tư, khu vui chơi do doanh nghiệp xây, tủ sách do phụ huynh quyên góp cho lớp.
| Xã hội hóa cá nhân | Xã hội hóa một lĩnh vực | |
|---|---|---|
| Ai được “xã hội hóa” | Một con người | Giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao… |
| Hay gặp ở đâu | Giáo trình xã hội học, tâm lý học, sách GDCD | Văn bản nhà nước, báo chí |
| Ví dụ câu | Gia đình là môi trường xã hội hóa đầu tiên của trẻ | Thành phố kêu gọi xã hội hóa việc xây sân chơi |
Mẹo đọc nhanh: chủ thể là một người thì đó là nghĩa xã hội học, là một ngành thì đó là nghĩa chính sách.
Ta học làm người qua những ai?
Các giáo trình gọi những người, những nơi dạy ta cách sống là tác nhân xã hội hóa. Bốn tác nhân được nhắc nhiều nhất:
- Gia đình đến trước tiên. Câu “Con chào bác đi” lặp lại hàng trăm lần là một bài học xã hội hóa. Giọng nói, thói quen ăn uống, cả những định kiến kiểu “con trai không được khóc” cũng từ đây mà ra.
- Trường học dạy những thứ gia đình không dạy được: giơ tay xin phát biểu, làm việc nhóm với người mình không chọn, chấp nhận điểm số và luật lệ chung.
- Nhóm bạn cùng tuổi có sức nặng riêng, nhất là ở tuổi mới lớn. Cách ăn mặc, tiếng lóng, gu nhạc thường học từ bạn nhanh hơn từ bố mẹ.
- Truyền thông và mạng xã hội đưa vào đầu ta hình mẫu về thành công, về vẻ đẹp, về cách nói chuyện, nhiều khi trước cả lúc ta kịp tự hỏi có nên theo không.
Khi đã lớn, nơi làm việc, quân ngũ, một cộng đồng mới ở xứ người tiếp tục vai trò ấy. Người ta gọi giai đoạn đầu đời là xã hội hóa sơ cấp, các giai đoạn sau là xã hội hóa thứ cấp.
Thiếu xã hội hóa thì con người ra sao?
Lý do con người cần xã hội hóa nằm ở chỗ ta sinh ra với rất ít bản năng sẵn có. Không ai bẩm sinh đã biết tiếng Việt hay biết mời khách uống trà. Những gì ta tưởng là “tự nhiên” phần lớn được học từ người khác.
Các tài liệu xã hội học hay nhắc đến những trường hợp trẻ em bị cách ly gần như hoàn toàn khỏi người khác. Khi được tìm thấy, các em không nói được, không biểu lộ cảm xúc theo cách thông thường. Những ca hiếm hoi ấy cho thấy phần sinh học chỉ là cái nền; muốn thành người theo nghĩa đầy đủ thì phải sống cùng người.
Tác động của xã hội hóa đi theo hai chiều. Nó giúp mỗi người có chỗ đứng, có ngôn ngữ chung để sống cùng những nhóm người gắn bó quanh mình, và giúp xã hội truyền lại kinh nghiệm từ lớp người trước sang lớp người sau. Nhưng nó cũng truyền cả những định kiến chưa đúng. Một em bé lớn lên giữa những lời chê “con gái học toán làm gì” có thể mang ý nghĩ ấy rất lâu mà không hay. Nếu muốn tìm hiểu thêm về ngành nghiên cứu những chuyện này, có thể đọc bài ngành học về các nhóm người và quan hệ giữa họ.
Khi một người thấy khó hòa nhập kéo dài, hay bị cô lập, căng thẳng mỗi lần phải giao tiếp, nên trò chuyện với thầy cô, người thân hoặc nhà tâm lý thay vì tự chịu một mình.
Xã hội hóa trong bài GDCD và trên báo
Xã hội hóa cá nhân là gì?
Là cách gọi đầy đủ của nghĩa xã hội học: quá trình một người học ngôn ngữ, chuẩn mực, giá trị và vai trò để trở thành thành viên của xã hội. Thêm chữ “cá nhân” để phân biệt với xã hội hóa một lĩnh vực.
Xã hội hóa giáo dục là gì?
Là chủ trương huy động gia đình, doanh nghiệp, tổ chức và người dân cùng Nhà nước đầu tư, đóng góp cho giáo dục: mở trường ngoài công lập, tài trợ học bổng, góp sức xây trường lớp. Trách nhiệm chính về giáo dục vẫn thuộc về Nhà nước.
Xã hội hóa tiếng Anh là gì?
Nghĩa xã hội học là socialization. Nghĩa chính sách không có một từ tương đương cố định; tài liệu tiếng Anh thường diễn đạt bằng các cụm như huy động sự tham gia của tư nhân và cộng đồng vào dịch vụ công.
Ví dụ về xã hội hóa trong đời sống là gì?
Một em bé học cách nói “dạ, vâng” với người lớn, một sinh viên năm nhất học cách gọi thầy cô và bạn cùng phòng, một người mới đi làm học văn hóa công ty: đều là xã hội hóa. Ở nghĩa chính sách, một sân bóng do doanh nghiệp bỏ vốn xây cho phường là ví dụ quen thuộc.