Vè trái cây là bài vè dân gian Nam Bộ mở đầu bằng “Nghe vẻ nghe ve / Nghe vè trái cây”, kể gần ba mươi loại trái bằng lối đố vui và chơi chữ: “Khoanh tay lo nghèo / Là trái bần ổi”, “Sông sâu chẳng lội / Là trái mãng cầu”. Một bản có cùng câu mở đầu và câu kết được in trong sách Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, nhiều tuyển đồng dao khác cũng chép lại với ít nhiều khác biệt. Dưới đây là lời đầy đủ, giải nghĩa từng câu và các dị bản.

Lời bài vè trái cây
Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè trái cây
Dây ở trên mây
Là trái đậu rồng
Có vợ có chồng
Là trái đu đủ
Chặt ra nhiều mủ
Là trái mít ướt
Đầu tựa gà xước
Vốn thiệt trái thơm
Cái đầu chơm bơm
Là trái bắp nấu
Rủ nhau làm xấu
Trái cà dái dê
Ngứa mà gãi mê
Là trái mắt mèo
Khoanh tay lo nghèo
Là trái bần ổi
Sông sâu chẳng lội
Là trái mãng cầu
Chẳng thấy nàng đâu
Ấy là trái cách
Trong ruột ọc ạch
Vốn thiệt dừa xiêm
Chín thì thâm kim
Chuối già, chuối sứ
Tùng tam tụ tứ
Một lũ dưa gang
Vốn ở miền Nam
Là trái bí rợ
Mẹ sai đi chợ
Vốn thiệt trái dâu
Ở những ao sâu
Là trái bông súng
Chẳng nên lễ cúng
Đó là trái sung
Nhỏ mà cay hung
Là trái ớt hiểm
Đánh túc cầu liễm
Vốn thiệt trái me
Nắng mà chẳng che
Là trái rau mát
Rủ nhau chà xát
Vốn thiệt trái chanh
Nhỏ mà làm anh
Trái đào lộn hột
Ăn mà chẳng lột
Vốn thiệt trái tiêu
Thổi nghe ú liêu
Là trái cóc kèn
Rủ nhau đi rèn
Là trái đậu rựa
Đua nhau chọn lựa
Cam ngọt, cam sành
Nhưng chi lịch sự
Bằng táo với hồng
Những gái chưa chồng
Muốn ăn mua lấy.
Vè dân gian Nam Bộ. Đối chiếu Thi Viện, Tạp chí Khoa học ĐHSP TP.HCM (dẫn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan) và các tuyển vè cho trẻ.
Bài viết theo thể bốn chữ, cứ hai câu kể một loại trái, vần lưng nối liền như chuỗi hạt (cây – mây, chồng – đủ – mủ…). Theo bài viết của Nguyễn Thị Kim Ngân trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, bài có đủ ba phần của một bài vè: mào đầu (“Nghe vẻ nghe ve…”), phần kể và phần kết (“… bằng táo với hồng”).
Giải nghĩa các câu trong bài vè
Cái hay của bài nằm ở chỗ mỗi loại trái được gọi ra bằng một đặc điểm thật hoặc bằng lối chơi chữ với tên gọi.
Những câu tả đặc điểm thật
- Đậu rồng: loại đậu leo giàn cao, quả có bốn cánh khía như vảy rồng, nên “dây ở trên mây”.
- Đu đủ: có cây đực, cây cái riêng, nên vè nói đu đủ “có vợ có chồng”.
- Mít ướt: loại mít múi mềm, chặt ra chảy nhiều nhựa trắng (mủ); tên “mít ướt” cũng là tiếng gọi đứa trẻ hay khóc.
- Trái thơm: tên gọi quả dứa ở Nam Bộ; “đầu tựa gà xước” có lẽ ví chùm lá trên đầu quả với con gà xù lông.
- Bắp: tiếng Nam Bộ chỉ ngô; bắp có chùm râu bờm xờm ở đầu.
- Mắt mèo: loại dây leo có quả phủ lông, chạm vào rất ngứa.
- Dừa xiêm: dừa nhiều nước, lắc lên nghe óc ách trong ruột.
- Chuối già, chuối sứ: hai giống chuối Nam Bộ, vỏ chín có những đốm thâm.
- Dưa gang: quả nằm lăn lóc từng đám trên ruộng, như “tụm ba tụm bốn”.
- Bông súng, ớt hiểm, tiêu: súng mọc dưới ao; ớt hiểm quả nhỏ mà cay “hung” (cay lắm); hạt tiêu ăn cả vỏ, không phải lột.
- Đào lộn hột: tên Nam Bộ của cây điều, hạt mọc lộn ra ngoài quả.
Những câu chơi chữ với tên trái
- Bần ổi: “bần” nghĩa là nghèo, nên “khoanh tay lo nghèo”.
- Mãng cầu: có “cầu” thì qua sông sâu không cần lội.
- Trái cách: “cách” là xa cách, nên “chẳng thấy nàng đâu”.
- Trái dâu: trùng tên với nàng dâu, người được mẹ chồng “sai đi chợ”.
- Rau mát: trời nắng mà không cần che vì đã “mát”.
- Đậu rựa: quả dẹt, dài như con dao rựa, nên “rủ nhau đi rèn”.
- Cóc kèn: có chữ “kèn” nên “thổi nghe ú liêu”.
Một vài câu như “Đánh túc cầu liễm / Vốn thiệt trái me” hay “Chẳng nên lễ cúng / Đó là trái sung” đến nay chưa có lời giải thống nhất; nhiều khả năng chúng chỉ để bắt vần (liễm – hiểm, cúng – súng – sung).

Cách đọc và chơi cùng bé
- Người lớn đọc câu đố (“Có vợ có chồng”), bé đoán tên trái (“Là trái đu đủ”). Có thể bày trái thật hoặc tranh ảnh để bé chỉ vào.
- Với trẻ miền Bắc, giải thích thêm các tên gọi Nam Bộ: thơm là dứa, bắp là ngô, mãng cầu là na, đào lộn hột là điều, bí rợ là bí đỏ.
- Chia đoạn cho bé học thuộc dần, mỗi ngày bốn đến sáu cặp câu.
- Khi bé đã thuộc, thử đặt thêm cặp câu mới cho loại trái bé thích, theo đúng lối bốn chữ của vè.
Ý nghĩa của bài vè trái cây
Bức tranh trái cây miệt vườn Nam Bộ
Đu đủ, mít, dứa, dừa xiêm, chuối sứ, dưa gang, bần, me, điều, cam sành… là sản vật quen thuộc của vùng sông nước phương Nam. Bài vè như một phiên chợ trái cây được kể bằng lời.
Tài chơi chữ của người bình dân
Từ tên một loại trái, người xưa nghĩ ra một tình huống vui: bần thì nghèo, cầu thì khỏi lội, cách thì xa nàng. Lối liên tưởng nhanh, dí dỏm này là nét riêng của vè kể vật Nam Bộ.
Học tên gọi và đặc điểm
Với trẻ nhỏ, bài vè là cách nhớ tên hàng chục loại trái kèm đặc điểm nổi bật, vừa học vừa cười.
Các dị bản của vè trái cây
- Bài viết trên Tạp chí Khoa học ĐHSP TP.HCM dẫn phần kết theo sách của Vũ Ngọc Phan là “Nhưng chi lịch sự bằng táo với hồng”; nhiều trang chép thành “Những chị lịch sự”.
- Thi Viện chép bản dài hơn, chen thêm nhiều trái miền Nam, chẳng hạn: Chặt đầu mà lột
Là trái bưởi chua Bên Tàu đem qua
Là hồng với nhãn - Khảo dị trên Thi Viện có câu mở phần kể khác: Thứ nhất đầu đàn
Là trái đu đủ - Một số trang ghi “Trong ruột ộc ạch / Là trái dừa xiêm” và “Trái đào (điều) lộn hột”.
- Theo cùng bài nghiên cứu, tập Đồng dao Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Dân có ba lời vè trái cây khác nhau, kể từ mười tám đến ba mươi ba loài trái.
Câu hỏi thường gặp
Vè trái cây có nguồn gốc từ đâu?
Đây là vè dân gian, phổ biến ở Nam Bộ. Một bản của bài có trong sách Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan; các tuyển đồng dao về sau ghi thêm nhiều dị bản.
“Trái thơm” trong bài là trái gì?
Là quả dứa. Ở Nam Bộ, dứa được gọi là thơm hoặc khóm.
Vì sao “khoanh tay lo nghèo” lại là trái bần?
Vì “bần” là chữ Hán Việt nghĩa là nghèo. Bài vè chơi chữ với tên trái để tạo câu đố vui.
Lời kết
Vè trái cây là một phiên chợ quê bằng thơ, vừa dạy trẻ tên các loại trái vừa gieo niềm vui chơi chữ. Bé có thể đọc thêm Vè con vật, Vè các loài chim, những bài vè dân gian cho trẻ mầm non và nhiều bài khác trong chuyên mục đồng dao.