Vè con vật quen thuộc nhất với trẻ mầm non và học sinh lớp 1 là bài “Vè loài vật” mở đầu bằng câu “Ve vẻ vè ve / Cái vè loài vật”. Bài kể hơn mười con vật bằng lối đố vui: mỗi cặp câu tả một đặc điểm rồi gọi tên con vật, như “Trên lưng cõng gạch / Là họ nhà cua”. Dưới đây là lời bài vè, giải nghĩa từng con vật, cách chơi đố cùng bé và một số bài vè con vật khác.

Lời bài vè con vật (Vè loài vật)
Ve vẻ vè ve
Cái vè loài vật
Trên lưng cõng gạch
Là họ nhà cua
Nghiến răng gọi mưa
Đúng là cụ cóc
Thích ngồi cắn chắt
Chuột nhắt, chuột đàn
Đan lưới dọc ngang
Anh em nhà nhện
Gọi kiểu tóc bện
Vợ chồng nhà sam
Rền rĩ kéo đàn
Đúng là anh dế
Suốt đời chậm trễ
Là họ nhà sên
Đêm thắp đèn lên
Là cô đom đóm
Gọi người dậy sớm
Chú gà trống choai
Đánh hơi rất tài
Anh em chú chó
Mặt hay nhăn nhó
Là khỉ trên rừng
Đồng thanh hát cùng
Ve sầu mùa hạ.
Vè trẻ em, sưu tầm. Đối chiếu bài tập Tiếng Việt lớp 1 trên VietJack, báo Nhân Dân (2011) và HoaTieu.
Bài viết theo thể bốn chữ, lối quen thuộc của vè kể vật: cứ hai câu một con vật, vần nối liền câu trước với câu sau (cua – mưa, ngang – nhện… nhà sam – kéo đàn). Các trang đăng bài đều ghi “sưu tầm”, không nêu tác giả.
Giải nghĩa từng con vật trong bài vè
- Cua – “trên lưng cõng gạch”: cua đồng có phần “gạch” màu vàng cam dưới mai. Bài vè chơi chữ, coi đó như viên gạch cua cõng trên lưng.
- Cóc – “nghiến răng gọi mưa”: dân gian tin cóc nghiến răng là trời sắp mưa; truyện cổ tích Cóc kiện trời cũng kể cóc lên thiên đình đòi mưa cho hạ giới.
- Chuột – “thích ngồi cắn chắt”: chuột nhắt hay gặm nhấm từng chút đồ ăn, đồ đạc.
- Nhện – “đan lưới dọc ngang”: nhện giăng tơ thành mạng như tấm lưới để bắt côn trùng.
- Sam – “gọi kiểu tóc bện”: kiểu tóc tết thành bím được gọi là tóc đuôi sam, mượn tên chiếc đuôi dài của con sam biển. Sam thường đi thành đôi, con đực bám sau con cái, nên có tên “vợ chồng nhà sam”.
- Dế – “rền rĩ kéo đàn”: tiếng dế gáy kéo dài như tiếng đàn, phát ra khi dế cọ hai cánh vào nhau.
- Sên – “suốt đời chậm trễ”: ốc sên bò rất chậm, mang theo cả vỏ nhà trên lưng.
- Đom đóm – “đêm thắp đèn lên”: phần bụng đom đóm phát sáng nhấp nháy trong đêm.
- Gà trống choai – “gọi người dậy sớm”: gà trống mới lớn, tập gáy vào lúc tờ mờ sáng.
- Chó – “đánh hơi rất tài”: mũi chó rất thính, đánh hơi tìm đồ vật, canh nhà, bắt trộm.
- Khỉ – “mặt hay nhăn nhó”: khỉ có nhiều biểu cảm trên mặt, trông như đang nhăn nhó.
- Ve sầu – “đồng thanh hát cùng”: mùa hè, hàng loạt ve sầu cùng kêu râm ran trên cây.

Cách đọc và chơi đố cùng bé
Bài vè này được dùng làm bài đọc trong các phiếu bài tập cuối tuần Tiếng Việt lớp 1 trên VietJack, với câu hỏi “Viết tên các loài vật có trong bài”. Ở nhà, có thể biến bài thành trò chơi đố:
- Người lớn đọc câu tả đặc điểm, ví dụ “Đan lưới dọc ngang”, rồi dừng lại.
- Bé đoán tên con vật và đọc tiếp câu sau: “Anh em nhà nhện”.
- Đổi vai: bé đọc câu tả, người lớn đoán. Ai đoán đúng được một ngôi sao.
- Khi bé đã thuộc, cho bé tự nghĩ thêm cặp câu cho con vật khác theo đúng lối bốn chữ, như cuối bài vè vẫn rủ “bạn kể tiếp”.
Ý nghĩa của bài vè con vật
Một bài học quan sát thiên nhiên
Mỗi con vật được nhận ra qua một nét riêng đúng với thực tế: cua có gạch, nhện giăng tơ, đom đóm phát sáng, sên bò chậm. Trẻ học cách nhìn thật kỹ và gọi đúng đặc điểm của từng loài.
Vui mà dễ nhớ
Cách gọi thân mật “cụ cóc”, “anh dế”, “cô đom đóm”, “chú gà trống choai” biến các con vật thành những nhân vật gần gũi. Lời vè ngắn, có vần nên trẻ chỉ nghe vài lần là thuộc.
Rèn ngôn ngữ cho trẻ nhỏ
Bài có nhiều từ gợi hình, gợi âm như “rền rĩ”, “nhăn nhó”, “dọc ngang”, giúp trẻ mở rộng vốn từ và luyện phát âm.
Các dị bản của bài vè
- Báo Nhân Dân chép “cắn trắt” thay cho “cắn chắt” và kết bằng lời rủ: Loài vật hay quá
Bạn kể tiếp nghe - Bản trên HoaTieu dài hơn, thêm tằm và tôm cá: Cho tơ óng ả
Chị em nhà tằm
Tắm nước quanh năm
Giống nòi tôm cá
Nguồn gốc chưa xác định
Các trang đăng bài đều ghi “sưu tầm”; báo Nhân Dân (2011) trích bài như một bài vè của trẻ em. Tuy vậy, Văn VN chưa tìm thấy bài này trong các tuyển tập vè, đồng dao in trước đây, nên chưa thể nói chắc bài có từ bao giờ. Khi dùng trong lớp học, nên ghi nguồn là “sưu tầm”.
Những bài vè con vật khác
Kho vè dân gian có rất nhiều bài kể con vật. Thi Viện lưu một bài vè loài vật cổ dạy chữ Hán, ghép từng chữ Hán với tên con vật tiếng Việt: Nghe vẻ nghe ve
Nghe về loài vật
Mã ngựa, ngưu trâu
Lao bò, độc nghé Ngoài ra còn có các bài vè chim, vè cá, đồng dao về ếch, gà, kiến được Văn VN giới thiệu riêng như vè các loài chim, Ếch dưới ao, Con gà cục tác lá chanh.
Câu hỏi thường gặp
Bài vè con vật “Ve vẻ vè ve” kể những con vật nào?
Bài nhắc đến mười hai con vật: những con nhỏ quanh nhà như chuột, nhện, dế, sên, đom đóm, ve sầu; những con gắn với nước như cua, sam, cóc; cùng gà trống, chó và khỉ.
“Vợ chồng nhà sam” là con gì?
Là con sam, loài vật sống ở biển, có mai cứng và đuôi dài nhọn. Sam thường đi thành cặp nên dân gian gọi “vợ chồng nhà sam”.
Bài vè con vật có tác giả không?
Các nguồn đều ghi “sưu tầm”, không nêu tác giả. Hiện chưa có tài liệu xác định nguồn gốc cụ thể của bài.
Lời kết
Vè con vật “Ve vẻ vè ve” là cách vui để trẻ nhớ tên và đặc điểm của hàng chục loài vật quanh mình. Bé có thể đọc thêm Vè trái cây, bộ thơ về con vật cho bé, những bài vè dân gian cho trẻ mầm non và nhiều bài trong chuyên mục đồng dao.