Vè các loài chim được biết đến nhiều nhất là bài Vè chim “Hay chạy lon xon / Là gà mới nở”, học sinh lớp 2 học trong sách Tiếng Việt 2 Kết nối tri thức. Mỗi cặp câu tả một thói quen rồi gọi tên một loài chim, từ gà con, sáo, chìa vôi đến tu hú, cú mèo. Bài viết giới thiệu lời bài vè, giải nghĩa từng loài chim, bản dài hơn trên Thi Viện và các bài vè chim chóc ở Nam Bộ.

Lời bài vè các loài chim
Bản dưới đây theo sách Tiếng Việt 2:
Hay chạy lon xon
Là gà mới nở
Vừa đi vừa nhảy
Là em sáo xinh
Hay nói linh tinh
Là con liếu điếu
Hay nghịch hay tếu
Là cậu chìa vôi
Hay chao đớp mồi
Là chim chèo bẻo
Tính hay mách lẻo
Thím khách trước nhà
Hay nhặt lân la
Là bà chim sẻ
Có tình có nghĩa
Là mẹ chim sâu
Giục hè đến mau
Là cô tu hú
Nhấp nhem buồn ngủ
Là bác cú mèo…
Đồng dao. Theo sách Tiếng Việt 2 Kết nối tri thức, tập hai, Bài 9 (bản do LoiGiaiHay, VietJack chép).
Bài viết theo thể bốn chữ quen thuộc của vè kể vật. Câu lẻ tả tính nết, câu chẵn gọi tên, kèm cách xưng hô thân mật như người trong một nhà: em, cậu, thím, bà, mẹ, cô, bác. Dấu ba chấm ở cuối cho thấy sách chỉ trích một đoạn của bài vè dài hơn.
Giải nghĩa từng loài chim trong bài vè
- Gà mới nở – “hay chạy lon xon”: gà con chạy những bước ngắn, nhanh và lũn cũn theo mẹ.
- Sáo – “vừa đi vừa nhảy”: sáo hay nhảy cẫng trên mặt đất khi kiếm ăn, lại bắt chước tiếng kêu giỏi.
- Liếu điếu – “hay nói linh tinh”: tên loài chim nhỏ được gọi theo tiếng kêu ríu ran của nó, nghe như nói luôn miệng.
- Chìa vôi – “hay nghịch hay tếu”: chim nhỏ có đuôi dài, đi đâu cũng vẫy đuôi lên xuống liên tục, trông rất tinh nghịch.
- Chèo bẻo – “hay chao đớp mồi”: chim lông đen, đuôi chẻ đôi, hay lượn chao để đớp côn trùng trên không, lại dám đuổi cả diều hâu.
- Chim khách – “tính hay mách lẻo”: dân gian tin chim khách kêu trước nhà là sắp có khách đến, như thể chim “mách” trước cho chủ nhà.
- Chim sẻ – “hay nhặt lân la”: sẻ nhảy loanh quanh sân nhặt thóc, không bay đi xa.
- Chim sâu – “có tình có nghĩa”: loài chim nhỏ chuyên bắt sâu cho cây, được coi là bạn của nhà nông.
- Tu hú – “giục hè đến mau”: tu hú thường kêu vào đầu mùa hè, khi vải chín, nên tiếng kêu như lời giục hè sang.
- Cú mèo – “nhấp nhem buồn ngủ”: cú mèo đi săn ban đêm, ban ngày đậu yên một chỗ, mắt lim dim như buồn ngủ.

Cách đọc và chơi đố chim cùng bé
- Đọc cả bài một lượt, nhấn giọng ở các từ chỉ hoạt động: chạy lon xon, nhảy, nói, đớp mồi, nhặt.
- Chơi đố: người lớn đọc câu tả (“Hay chao đớp mồi”), bé đoán tên chim (“Là chim chèo bẻo”).
- Cho bé xem ảnh thật của từng loài chim để đối chiếu với lời vè, nhất là những loài ít gặp như chìa vôi, chèo bẻo, liếu điếu.
- Khuyến khích bé tự đặt thêm một cặp câu cho loài chim bé biết, theo đúng lối bốn chữ.
Ý nghĩa của bài vè các loài chim
Quan sát tinh tế đời sống loài chim
Mỗi loài được nhận ra bằng đúng một thói quen có thật: sẻ nhặt thóc, chèo bẻo đớp mồi, cú mèo ngủ ngày. Bài vè là một bảng nhận diện chim bằng lời, rất hợp để trẻ học quan sát.
Thế giới loài chim như một đại gia đình
Cách gọi em, cậu, thím, bà, mẹ, cô, bác khiến các loài chim như những thành viên của một gia đình đông vui. Trẻ cảm thấy gần gũi và yêu quý chim chóc hơn.
Giàu từ ngữ chỉ hoạt động
Lon xon, nhảy, chao, đớp, nhặt, lân la, nhấp nhem: chỉ trong hai mươi câu, trẻ gặp rất nhiều từ chỉ hoạt động và đặc điểm, đúng yêu cầu luyện từ ở lớp 2.
Các dị bản và những bài vè chim khác
Bản dài trên Thi Viện
Thi Viện lưu bài “Vè chim chóc” dài hơn nhiều, kể cả gà mào, vịt, bói cá, cò, diệc, quạ, chim gáy, chiền chiện, vẹt, vạc… Một số câu khác với sách giáo khoa: Tính hay mách lẻo
Bác khách trước nhà Có tình có nghĩa
Là mẹ chim câu Nhấp nhem buồn ngủ
Là thằng cú mèo Bản này còn có những cặp câu không có trong sách: Hay bay bổ nhào
Là con bói cá
Vè chim chóc ở Nam Bộ
Theo bài viết trên Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM, tập Đồng dao Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Dân có tới bốn lời vè kể các loài chim, bài nhiều nhất kể hơn hai mươi loài. Một bài được báo Nhân Dân và Thi Viện ghi lại mở đầu như sau: Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè chim chóc
Hay moi hay móc Ngoài ra còn có bài “vè cầm thú” gán tính nết người cho từng loài chim: Nghe vẻ nghe ve
Nghe vè cầm thú
Hay quyến hay dụ
Là con chim quyên
Vè chim trong sách giáo khoa
Bài Vè chim là bài đọc của Bài 9, sách Tiếng Việt 2 Kết nối tri thức, tập hai. Học sinh được yêu cầu kể tên những loài chim có trong bài, tìm các từ nói về việc làm của chúng và cùng bạn chơi đố vui về chim. Trước đó, bài cũng từng là bài tập đọc trong sách Tiếng Việt 2 chương trình cũ (tập hai, trang 28). Lời giải chi tiết có tại bài Bài 9: Vè chim – Tiếng Việt lớp 2 Kết nối tri thức.
Câu hỏi thường gặp
Bài Vè chim có những loài chim nào?
Bản trong sách Tiếng Việt 2 nhắc đến mười loài: gà con, sáo; ba loài nhỏ hay kêu, hay nghịch là chèo bẻo, liếu điếu, chìa vôi; hai loài quanh nhà là chim khách và sẻ; chim sâu bắt sâu cho cây; tu hú báo hè; cuối cùng là cú mèo.
“Lân la” nghĩa là gì?
“Lân la” là đi loanh quanh, nhích dần từng chút, không đi xa. Chim sẻ nhặt thóc lân la quanh sân nhà.
Vè chim có tác giả không?
Không. Sách giáo khoa ghi nguồn là đồng dao, tức sáng tác dân gian truyền miệng, có nhiều bản khác nhau tùy vùng.
Lời kết
Vè các loài chim là bài học về thiên nhiên được gói trong những câu bốn chữ vui tai. Bé có thể đọc thêm Bồ các là bác chim ri, Vè con vật, những bài vè dân gian cho trẻ mầm non và nhiều bài khác trong chuyên mục đồng dao.