Vãng sanh là thuật ngữ Phật giáo, nghĩa là sau khi mất được sinh về cõi Tịnh độ, mà phổ biến nhất là cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà theo niềm tin của tông Tịnh độ. “Vãng sinh” và “vãng sanh” là một từ, chỉ khác cách đọc chữ 生. Trong lời nói của gia đình theo đạo Phật, “đã vãng sanh” còn là cách nói kính cẩn về người vừa qua đời.
| Nghĩa ngắn | Sinh về cõi Tịnh độ (Cực Lạc) sau khi mất |
| Chữ Hán | 往生: vãng (đi tới) + sanh/sinh (sinh ra) |
| Thuộc | Phật giáo Đại thừa, pháp môn Tịnh độ |
| Gắn với | Niệm Phật, chú Vãng sanh, hộ niệm lúc lâm chung, lễ cầu siêu |

Chữ vãng sanh: đi tới và sinh ra
Chữ vãng (往) là đi, đi tới; nó có mặt trong vãng lai (qua lại), dĩ vãng, quá vãng. Chữ sinh (生) là sinh ra, sống; ở Nam Bộ và trong nhiều bản kinh tiếng Việt, chữ này quen đọc là sanh, như sanh nhật, chúng sanh. Vì thế “vãng sanh” và “vãng sinh” viết khác mà nghĩa không khác.
Từ điển Phật học tiếng Việt ghi hai nghĩa. Nghĩa rộng là đời sống kế tiếp mà một người sẽ đi tới. Nghĩa hẹp, cũng là nghĩa thường dùng, là đi về cõi Tịnh độ của Phật A Di Đà. Ghép chữ lại thì dễ nhớ: rời cõi này, đi tới và sinh ra ở một cõi khác.
Đọc lướt, “vãng” dễ bị nghe thành “vãn”, nên có người viết sai thành “vãn sanh”; cách viết đúng có trong bài phân biệt vãn sanh và vãng sanh.
Vãng sanh khác qua đời, siêu thoát, tái sinh ở đâu?
| Từ | Nghĩa chính | Hay dùng khi |
|---|---|---|
| Vãng sanh | Sau khi mất được sinh về cõi Tịnh độ, không còn rơi lại vòng luân hồi theo niềm tin Tịnh độ | Tang lễ, cáo phó, lời chia buồn của gia đình Phật tử |
| Qua đời, tạ thế | Chết, nói theo lối trang trọng, không gắn với tôn giáo nào | Mọi văn bản, tin buồn |
| Siêu thoát | Vong linh thoát khỏi cảnh khổ, không còn vướng bận cõi đời | Lời cầu nguyện, lễ cầu siêu |
| Tái sinh, luân hồi | Sinh trở lại trong các cõi theo nghiệp đã tạo | Giảng giải giáo lý nhà Phật |
Điểm dễ lẫn nhất là vãng sanh với tái sinh. Cả hai đều là “sinh ra lần nữa”, nhưng tái sinh là quay lại vòng sinh tử, còn vãng sanh, theo người tu Tịnh độ, là ra khỏi vòng ấy để sang một cõi thanh tịnh, nơi việc tu hành không còn bị thoái lui. Vì thế, chúc ai “sớm vãng sanh” chỉ hợp khi nói về người đã khuất, tuyệt đối không dùng với người đang sống.
Từ niềm tin Tịnh độ đến lời cáo phó
Tông Tịnh độ đặt niềm tin vào Phật A Di Đà và cõi Cực Lạc ở phương Tây. Ba bộ kinh nền tảng của tông này là kinh Vô Lượng Thọ, kinh Quán Vô Lượng Thọ và kinh A Di Đà. Theo giáo lý ấy, người niệm danh hiệu Phật với lòng tin và nguyện thiết tha thì khi mạng chung sẽ được sinh về cõi kia.
Trong quan niệm nhà Phật, vãng sanh không phải chuyện tự nhiên ai mất cũng được; nó gắn với việc tu tập lúc còn sống.
Ngoài kinh sách, chữ này đi vào đời thường qua tang lễ. Trên cáo phó hay lời chia buồn của những gia đình theo đạo Phật, người ta hay viết người thân “đã vãng sanh”, vừa báo tin, vừa gửi gắm mong ước người mất được về nơi an lành. Cùng nhóm với vãng sanh là chữ vô thường, lẽ đổi thay của mọi sự, một ý mà các buổi lễ tang nhà Phật thường nhắc tới.
Niệm Phật, chú Vãng sanh và hộ niệm
Ba việc gắn với chữ vãng sanh hay được nhắc trong sinh hoạt Phật giáo ở Việt Nam:
- Niệm Phật: lặp lại danh hiệu “Nam mô A Di Đà Phật”, đọc to hoặc đọc thầm. Đây là cách tu chính của pháp môn Tịnh độ; chữ niệm ở đây được giảng kĩ trong bài nghĩa chữ 念 khi niệm Phật.
- Chú Vãng sanh: bài chú ngắn có tên đầy đủ là “Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sanh Tịnh độ đà-la-ni”, hay được tụng trong nghi lễ ở các đạo tràng niệm Phật và lễ cầu siêu.
- Hộ niệm: khi một người sắp mất, người nhà hoặc ban hộ niệm của chùa ngồi bên, cùng niệm Phật để người ấy giữ tâm bình an trong giây phút cuối.
Sau khi người thân mất, nhiều gia đình còn làm lễ cầu siêu và cúng thất qua 49 ngày, với ý nguyện cầu cho người đã khuất được vãng sanh. Cách tính các tuần thất có ở bài lễ cúng thất và mốc 49 ngày. Nghi thức cụ thể khác nhau tùy chùa, tùy vùng và tùy truyền thống của từng gia đình, nên khi lo việc nên hỏi thầy trụ trì nơi mình thường lui tới.
Một lưu ý về chữ nghĩa: vãng sanh là niềm tin tôn giáo, nên khi viết văn bản phổ thông, nói “cụ đã qua đời” là trung tính; còn “cụ đã vãng sanh” chỉ hợp khi gia đình người mất theo đạo Phật.
Đã vãng sanh, chú Vãng sanh: nói và viết sao cho phải?
Vãng sanh nghĩa là gì khi nói về người mới mất?
Nói ai đó “đã vãng sanh” là cách nói kính cẩn rằng người ấy đã qua đời, kèm niềm mong họ được sinh về cõi Phật. Cách nói này dùng trong gia đình, cộng đồng theo đạo Phật.
Vãng sinh là gì, có khác vãng sanh không?
Không khác. Cả hai đều viết từ chữ 往生; “sanh” là cách đọc chữ 生 quen ở Nam Bộ và trong nhiều kinh sách, “sinh” là cách đọc phổ thông.
Chú Vãng sanh là gì?
Là bài chú ngắn trong nghi lễ Tịnh độ, tên đầy đủ là “Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sanh Tịnh độ đà-la-ni”. Người tu tụng chú này với ý nguyện tiêu trừ nghiệp chướng để được sinh về cõi Cực Lạc.
Vãng sanh Cực Lạc là gì?
Là được sinh về cõi Cực Lạc ở phương Tây của Phật A Di Đà, đích đến của người theo pháp môn này. Theo giáo lý này, ở đó người tu không còn thoái lui và tiếp tục con đường giác ngộ.