Văn tế là thể văn đọc trong lễ tế, lễ cúng người đã mất, dùng để kể lại cuộc đời, công đức của người ấy và bày tỏ nỗi thương tiếc của người sống. Chữ Hán gọi là tế văn (祭文). Bài văn tế truyền thống thường có bốn phần: lung khởi, thích thực, ai vãn và kết, viết bằng giọng lâm li, thống thiết, như Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu.
| Khái niệm | Bài văn đọc khi tế, cúng người chết; ca ngợi người mất và than khóc sự ra đi |
| Gốc chữ | Hán Việt 祭文: tế là cúng tế, văn là bài văn; còn gọi chúc văn |
| Thuộc | Văn học trung đại, nhóm văn bản có tính nghi lễ (cùng hịch, cáo, phú) |
| Dấu hiệu nhận biết | Bốn phần lung khởi – thích thực – ai vãn – kết; nhiều thán từ “Hỡi ôi”, “Than ôi”; câu đối nhau từng cặp |
| Hình thức | Văn xuôi, văn vần, song thất lục bát, phổ biến nhất là lối phú có đối |

Văn tế: bài văn đọc trước linh vị
Hình dung một buổi tế ở đình làng xưa: hương khói, chiêng trống, người chủ tế mặc áo thụng đứng trước bàn thờ. Đến lúc đọc văn tế, cả sân lặng đi, người đọc cất giọng ngân dài như vừa đọc vừa khóc. Văn tế sinh ra để được đọc to trong không khí ấy, nên nó cần nhịp, cần những tiếng than, cần những câu đối nhau cho dễ ngân nga.
Lúc đầu, bài văn cầu chúc chủ yếu dùng khi tế trời đất, núi sông. Về sau người ta dùng văn tế trong tang lễ để tưởng nhớ người thân, rồi nội dung rộng dần: khóc người hi sinh vì nghĩa, xót cảnh nước mất nhà tan, thương những linh hồn không nơi nương tựa. Có cả những bài văn tế mượn hình thức nghi lễ để giễu cợt một thói xấu.
Về bản chất, văn tế luôn có hai mặt đi cùng nhau: ca ngợi người đã khuất và bày tỏ niềm thương tiếc. Thiếu một trong hai, bài văn sẽ giống một bản tiểu sử hoặc một lời than không có điểm tựa.
Bốn phần và cách nói riêng của văn tế
| Phần | Nội dung | Thường mở bằng |
|---|---|---|
| Lung khởi | Nêu cảm tưởng chung, bàn về lẽ sống chết hoặc khái quát về người mất | Than ôi, Hỡi ôi, Thương ôi |
| Thích thực | Kể lại cuộc đời, phẩm hạnh, công đức của người mất | Nhớ linh xưa, Nhớ ông xưa |
| Ai vãn | Than khóc, bày tỏ nỗi đau của người còn sống | Ôi, Hỡi ôi |
| Kết | Lời người đứng tế tỏ lòng tiếc thương, mời linh hồn về hưởng lễ | Thượng hưởng, Có linh xin hưởng |
Ngoài bố cục, văn tế còn có những dấu hiệu dễ nhận về lời văn:
- Giọng lâm li, thống thiết. Thán từ, câu cảm thán xuất hiện dày, nhất là ở đầu mỗi phần.
- Câu đối nhau từng cặp. Phần lớn văn tế viết theo lối biền ngẫu, hai vế song song về ý và về thanh bằng trắc. Mỗi cặp như vậy gọi là một liên.
- Từ ngữ, hình ảnh giàu sức biểu cảm. Người viết chọn những hình ảnh đau đớn, những từ có sắc thái mạnh để người nghe cùng xúc động.
- Lời nói với người đã mất. Văn tế hay xưng “linh”, gọi thẳng người khuất như đang có mặt.
Không phải bài nào cũng đủ cả bốn phần theo đúng thứ tự. Tùy thể thơ, thể văn người viết chọn mà bố cục có thể thay đổi; nhưng khi làm bài đọc hiểu, bốn phần trên là khung an toàn nhất để chia đoạn.
Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc và những bài văn tế khác
Mở đầu bằng tiếng than lớn
Súng giặc đất rền;
Lòng dân trời tỏ.
Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế này năm 1861, sau trận nghĩa quân tập kích đồn giặc ở Cần Giuộc. Hai vế mở đầu đối nhau rất chỉnh: “súng giặc” với “lòng dân”, “đất rền” với “trời tỏ”. Chỉ tám chữ mà dựng ngay được không khí thời cuộc và lời khẳng định về tấm lòng người dân. Đó là phần lung khởi. Một số bản chép mở bằng tiếng “Hỡi ơi”, sách giáo khoa in “Hỡi ôi”.
Thích thực: người nông dân thành nghĩa sĩ
Phần “Nhớ linh xưa” kể lại những người lính vốn chỉ quen cuốc cày, chưa từng cầm giáo mác, vậy mà khi giặc đến thì tự nguyện ra trận với vũ khí thô sơ. Chỗ đặc sắc là nhà thơ không viết về một vị tướng mà về những người nông dân vô danh, điều hiếm thấy trong văn tế trung đại. Bài soạn Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc chia rõ ranh giới từng phần.
Ai vãn và kết
Sang phần ai vãn, giọng văn chuyển hẳn sang tiếng khóc: mẹ già, vợ yếu, cả xóm làng cùng đau. Phần kết ca ngợi sự hi sinh của các nghĩa sĩ, rồi khép lại bằng lời “Có linh xin hưởng”, đúng lối mời linh hồn về hưởng lễ của văn tế. Muốn đi sâu vào giá trị nội dung và nghệ thuật, có thể đọc các bài phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc.
Văn tế viết bằng song thất lục bát
Văn tế không nhất thiết phải là lối phú. Văn tế thập loại chúng sinh (còn gọi Văn chiêu hồn) của Nguyễn Du viết bằng thể song thất lục bát, khóc thương những kiếp người chết không ai thờ cúng, từ người quyền quý đến kẻ ăn mày. Đọc nguyên văn ở trang Văn tế thập loại chúng sinh.
Quanh thể văn này còn có cả chuyện kể truyền miệng, như việc Mạc Đĩnh Chi đọc văn tế công chúa nhà Nguyên, một giai thoại bị gán nhầm người viết.
Văn tế, điếu văn và văn bia khác nhau ra sao?
| Tiêu chí | Văn tế | Điếu văn | Văn bia |
|---|---|---|---|
| Dùng khi | Lễ tế, lễ cúng người đã mất | Lễ tang, lễ truy điệu | Khắc lên bia đá, đặt ở mộ, đình, chùa |
| Hình thức | Thường có vần, đối; bố cục bốn phần | Văn xuôi, không bắt buộc vần đối | Văn xuôi hoặc có phần minh (lời thơ) cuối bài |
| Giọng điệu | Lâm li, than khóc, nhiều thán từ | Trang trọng, tiếc thương nhưng chừng mực | Trang nghiêm, ghi chép là chính |
| Thời kì phổ biến | Văn học trung đại | Hiện đại, đến bây giờ vẫn dùng | Trung đại, nay ít dùng |
Văn tế cũng có họ hàng gần là hịch, cáo, phú vì cùng dùng lối biền ngẫu. Bài điếu văn gồm những phần nào giải thích kĩ hơn thể văn đọc trong đám tang hiện đại.
Luyện tập: bốn câu về thể văn tế
Câu 1: Văn tế thường gồm mấy phần? Nêu nội dung từng phần.
Đáp án: Bốn phần. Lung khởi: cảm tưởng chung về người mất hoặc lẽ sống chết. Thích thực: kể lại cuộc đời, công đức người mất. Ai vãn: than khóc, bày tỏ nỗi đau. Kết: lời tiếc thương và lời mời linh hồn về hưởng lễ.
Câu 2: Chỉ ra phép đối trong hai câu “Súng giặc đất rền; Lòng dân trời tỏ”.
Đáp án: “Súng giặc” đối với “lòng dân”, “đất rền” đối với “trời tỏ”. Hai vế cân nhau về số chữ, về từ loại, về ý (cái ác của giặc đối với tấm lòng của dân). Phép đối tạo nhịp trang trọng, phù hợp giọng văn tế.
Câu 3: Vì sao văn tế dùng nhiều thán từ như “Hỡi ôi”, “Than ôi”?
Đáp án: Vì văn tế được đọc to trong buổi lễ, mục đích chính là bộc lộ nỗi thương tiếc. Thán từ ở đầu các phần vừa đánh dấu chỗ chuyển đoạn vừa đẩy cảm xúc lên cao, giúp người nghe cùng xúc động.
Câu 4: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc có điểm gì mới so với văn tế truyền thống?
Đáp án: Nhân vật được tế không phải một vị quan hay người thân trong nhà, mà là tập thể nghĩa sĩ xuất thân nông dân. Bài văn dựng được hình ảnh người nông dân đánh giặc với vẻ đẹp vừa mộc mạc vừa bi tráng, điều trước đó văn học trung đại hầu như chưa có.
Đọc và viết về văn tế
Văn tế là thể loại gì trong văn học?
Là thể văn thuộc văn học trung đại, gắn với nghi lễ cúng tế người chết. Nó có thể viết bằng nhiều hình thức: văn xuôi, văn vần, song thất lục bát, phổ biến nhất là lối phú có đối.
Văn tế có phải văn biền ngẫu không?
Phần lớn là có. Lối biền ngẫu cho văn tế những cặp câu đối nhau cân xứng. Tuy vậy cũng có bài văn tế viết theo văn xuôi hoặc theo thể thơ dân tộc, như Văn tế thập loại chúng sinh.
Văn tế khác điếu văn như thế nào?
Văn tế thuộc truyền thống trung đại, có vần đối, giọng than khóc, đọc trong lễ tế. Điếu văn là bài văn xuôi hiện đại, đọc trong lễ tang để kể lại cuộc đời và tiễn biệt người mất, giọng trang trọng hơn.
Ngày nay còn ai viết văn tế không?
Còn, nhưng ít. Ở nhiều làng, các cụ trong ban tế tự vẫn soạn văn tế cho lễ giỗ tổ, lễ cúng đình, thường giữ khung bốn phần và câu kết “thượng hưởng”. Trong tang lễ hiện đại, người ta chủ yếu đọc điếu văn.