Bỏ qua tới nội dung
Thư viện văn học số
Tra chính tả
Lớp mấy?

Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) – Dàn ý + 7 bài mẫu

Cập nhật 09/10/2026·MMavrick Nguyễn·38 phút đọc·Ngữ văn 12·Bài 4: Văn tế, thơ
Nội dung chính
  • Dàn ý phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
  • Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngắn gọn - mẫu 1
  • Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đầy đủ - mẫu 2
  • Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc - mẫu 3

Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là đề văn trọng tâm khi học Nguyễn Đình Chiểu ở Bài 9 sách Ngữ văn 11 Kết nối tri thức, Bài 4 sách Ngữ văn 12 Cánh diều và Bài 3 sách Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo. Bài văn tế viết năm 1861 để tưởng niệm những nghĩa sĩ nông dân hi sinh trong trận tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc, và được xem là tượng đài nghệ thuật đầu tiên về người nông dân trong văn học Việt Nam.

Bài viết gồm dàn ý chi tiết và 7 bài văn mẫu: bài ngắn gọn, bài đầy đủ theo bố cục, bài về hình tượng người nông dân nghĩa sĩ, bài phân tích đoạn tái hiện trận đánh, bài cảm nhận tiếng khóc bi tráng, bài về nghệ thuật và bài học sinh giỏi. Em nên xem trước phần tác giả, tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc để nắm hoàn cảnh ra đời và bố cục.

Còn khoảng một tuần trước kì thi, em có thể dùng hệ thống kiến thức học kì I lớp 12 sách Cánh diều làm khung ôn và đánh dấu những phần còn yếu.

Dàn ý

Dàn ý phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1.108 từ

Dàn ý bám theo bố cục bốn phần của bài văn tế, dùng được cho bài văn khoảng 900 – 1.300 chữ.

phân tích văn tế nghĩa sĩ cần giuộc
Dàn ý và bài văn mẫu phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

1. Mở bài

– Giới thiệu Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) – nhà thơ mù xứ Đồng Nai, ngọn cờ đầu của văn học yêu nước chống Pháp nửa sau thế kỉ XIX.

– Giới thiệu Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: tiếng khóc bi tráng cho những người nông dân nghĩa sĩ, dựng nên tượng đài nghệ thuật về người nông dân đánh giặc cứu nước.

2. Thân bài

a. Khái quát

– Hoàn cảnh: tháng 12 năm 1861, nghĩa quân tập kích đồn Pháp ở Cần Giuộc, nhiều nghĩa sĩ hi sinh; tác giả viết bài văn tế theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định Đỗ Quang.

– Thể loại: văn tế viết bằng chữ Nôm, lối văn biền ngẫu; bố cục bốn phần: Lung khởi – Thích thực – Ai vãn – Kết.

b. Lung khởi: bối cảnh thời đại và ý nghĩa cái chết

– “Súng giặc đất rền; / Lòng dân trời tỏ”: phép đối, hình ảnh kì vĩ; đối lập sức mạnh vũ khí của giặc với lòng yêu nước của nhân dân.

– “Mười năm công vỡ ruộng, chưa ắt còn danh nổi như phao; / Một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ”: lấy cái chết để khẳng định sự bất tử.

⇒ Khái quát thời đại bão táp và chủ đề của bài văn tế.

c. Thích thực: hình tượng người nông dân nghĩa sĩ

– Xuất thân: “cui cút làm ăn”, “toan lo nghèo khó”, “chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”; “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy” quen tay, “tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ” chưa từng ngó.

+ Người dân cày nghèo, cần cù, chất phác, xa lạ với binh đao.

– Chuyển biến tình cảm: lo sợ (“tiếng phong hạc phập phồng”), trông chờ (“trông tin quan như trời hạn trông mưa”), căm ghét (“ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”), căm thù (“muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”).

+ Ý thức trách nhiệm, tự nguyện: “Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; / Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này nguyện ra tay bộ hổ”.

– Trận đánh: “Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ”, “chẳng qua là dân ấp dân lân”; vũ khí thô sơ: “manh áo vải”, “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi”, “dao phay”.

+ Khí thế: “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, “kẻ đâm ngang, người chém ngược”, “bọn hè trước, lũ ó sau” – động từ mạnh, nhịp nhanh, phép đối.

+ Chiến công: “đốt xong nhà dạy đạo”, “chém rớt đầu quan hai”.

⇒ Tượng đài người nông dân nghĩa sĩ: bình dị mà anh hùng, vẻ đẹp bi tráng.

d. Ai vãn: tiếng khóc thương

– Tiếc cho người chết khi chí lớn chưa thành: “Những lăm lòng nghĩa lâu dùng; đâu biết xác phàm vội bỏ”.

– Nỗi đau lan tỏa: “Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; / Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ”; “Mẹ già ngồi khóc trẻ”, “vợ yếu chạy tìm chồng”.

– Quan niệm sống chết: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; / Còn hơn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”.

⇒ Tiếng khóc đau thương mà không bi lụy, chứa niềm cảm phục và căm hờn.

e. Kết: khẳng định sự bất tử

– “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc…”; danh thơm “đồn sáu tỉnh”, “tiếng ngay trải muôn đời”.

– “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo…” – nỗi đau chung của nhân dân, đất nước.

f. Đánh giá nghệ thuật

– Kết hợp chất trữ tình và hiện thực; bút pháp sử thi dựng tượng đài.

– Ngôn ngữ bình dị, đậm chất Nam Bộ; nghệ thuật đối, câu văn biền ngẫu nhịp nhàng; giọng điệu bi tráng, biến đổi linh hoạt.

3. Kết bài

– Khẳng định giá trị: bài văn tế hay nhất của văn học trung đại Việt Nam, tượng đài bất tử về người nông dân nghĩa sĩ.

– Liên hệ: lòng biết ơn những người đã hi sinh vì Tổ quốc.

Mẫu 1

Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ngắn gọn – mẫu 1

566 từ

Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ mà cả cuộc đời gắn với nỗi đau và lòng yêu nước của nhân dân Nam Bộ. Trong di sản của ông, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tác phẩm để lại dấu ấn sâu đậm nhất, bởi lần đầu tiên người nông dân bước vào văn chương với tư cách người anh hùng.

Ngay hai câu mở đầu, tác giả đã dựng lên bối cảnh thời đại: “Súng giặc đất rền; / Lòng dân trời tỏ”. Một bên là sức mạnh vũ khí của kẻ thù, một bên là tấm lòng yêu nước sáng tỏ như trời. Trong hoàn cảnh ấy, những người nông dân “mười năm công vỡ ruộng” không ai biết đến đã trở nên bất tử nhờ “một trận nghĩa đánh Tây”.

Họ vốn là những người dân cày nghèo khó, “cui cút làm ăn”, “chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”, tay quen cuốc cày chứ chưa từng cầm giáo mác. Nhưng khi giặc đến, họ ghét giặc “như nhà nông ghét cỏ”, muốn “ăn gan”, “cắn cổ” kẻ thù, và tự nguyện đứng lên: “Nào đợi ai đòi ai bắt”. Ra trận, họ chỉ có “manh áo vải”, “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi”, “dao phay”, vậy mà vẫn “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, “kẻ đâm ngang, người chém ngược”, làm cho quân giặc khiếp vía. Hình tượng người nghĩa sĩ hiện lên vừa chân thực vừa kì vĩ.

Sự hi sinh của họ để lại nỗi đau lớn: cỏ cây sông Cần Giuộc sầu thảm, già trẻ chợ Trường Bình rơi lệ, mẹ già khóc con, vợ yếu tìm chồng. Nhưng tiếng khóc ấy không bi lụy, bởi tác giả khẳng định lựa chọn của nghĩa sĩ: thà chết vinh còn hơn sống nhục. Họ “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”, danh thơm còn mãi.

Với giọng điệu bi tráng, ngôn ngữ bình dị mà giàu sức gợi, nghệ thuật đối chỉnh, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là tiếng khóc lớn của một thời đại và là tượng đài bất tử về người nông dân nghĩa sĩ.

Mẫu 2

Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc đầy đủ – mẫu 2

1.637 từ

Nửa sau thế kỉ XIX, khi tiếng súng xâm lược của thực dân Pháp vang lên trên đất Nam Bộ, văn học Việt Nam có một giọng nói mới: giọng của những người cầm bút đứng về phía nhân dân kháng chiến. Tiêu biểu cho giọng nói ấy là Nguyễn Đình Chiểu – nhà thơ mù đã “chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm”. Bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc ông viết năm 1861 không chỉ là lời tế những người đã khuất mà còn là tượng đài đầu tiên về người nông dân nghĩa sĩ trong văn học dân tộc.

Tháng 12 năm 1861, nghĩa quân – phần lớn là nông dân – tập kích đồn giặc ở Cần Giuộc, gây cho địch nhiều thiệt hại, nhưng nhiều người đã hi sinh. Theo yêu cầu của tuần phủ Gia Định Đỗ Quang, Nguyễn Đình Chiểu viết bài văn tế đọc trong lễ truy điệu. Bài văn có bố cục bốn phần của thể văn tế: Lung khởi, Thích thực, Ai vãn và Kết.

Phần Lung khởi mở ra bằng tiếng than “Hỡi ôi!” rồi đến hai câu văn ngắn mà có sức nặng như một lời tuyên ngôn:

Súng giặc đất rền;
Lòng dân trời tỏ.

Hai vế đối nhau: “súng giặc” với “lòng dân”, “đất rền” với “trời tỏ”. Kẻ thù có sức mạnh vũ khí làm rung chuyển mặt đất; nhân dân có tấm lòng yêu nước sáng tỏ giữa trời. Không gian được mở ra rộng lớn, xứng với tầm vóc của một cuộc đụng độ lịch sử. Rồi tác giả so sánh “mười năm công vỡ ruộng” với “một trận nghĩa đánh Tây”: mười năm lặng lẽ không ai biết, một trận đánh mà “tiếng vang như mõ”. Cái chết đã làm nên danh thơm – đó là chủ đề của cả bài văn tế.

Phần Thích thực là phần dài nhất, tái hiện cuộc đời người nghĩa sĩ. Trước hết là xuất thân:

Nhớ linh xưa:
Cui cút làm ăn;
Toan lo nghèo khó.

Họ là những người dân cày lẻ loi, nghèo khổ, chỉ quen “việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy”, còn “tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ” thì “mắt chưa từng ngó”. Phép liệt kê và đối làm nổi bật khoảng cách giữa công việc đồng áng quen thuộc và việc binh đao xa lạ. Nguyễn Đình Chiểu không tô vẽ họ thành những võ tướng, mà để họ hiện lên đúng như ngoài đời.

Rồi giặc đến, tâm trạng người nông dân chuyển biến. Ban đầu là lo âu, “tiếng phong hạc phập phồng hơn mười tháng”; là mong chờ, “trông tin quan như trời hạn trông mưa”. Sau đó là căm ghét: “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ” – một so sánh chỉ người nông dân mới có. Căm ghét biến thành căm thù dữ dội: thấy “bòng bong che trắng lốp” thì “muốn tới ăn gan”, thấy “ống khói chạy đen sì” thì “muốn ra cắn cổ”. Từ căm thù, họ ý thức được trách nhiệm với đất nước và tự nguyện đứng lên: “Nào đợi ai đòi ai bắt, phen này xin ra sức đoạn kình; / Chẳng thèm trốn ngược trốn xuôi, chuyến này nguyện ra tay bộ hổ”.

Hình ảnh người nghĩa sĩ ra trận là những trang văn hào hùng nhất. Họ “vốn chẳng phải quân cơ quân vệ”, “chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Họ không được học “mười tám ban võ nghệ”, “chín chục trận binh thư”. Vũ khí là “manh áo vải”, “ngọn tầm vông”, “rơm con cúi”, “dao phay”. Nhưng chính sự thô sơ ấy làm nổi bật khí thế:

Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.

Những động từ mạnh “đạp”, “lướt”, “xô”, “xông”, nhịp câu dồn dập, thái độ “coi giặc cũng như không” tạo nên một khí thế áp đảo. Câu văn “Kẻ đâm ngang, người chém ngược” với các động từ đối nhau như vẽ lại cảnh xáp lá cà ngang dọc. Họ đốt được “nhà dạy đạo”, chém được “đầu quan hai”, khiến bọn lính đánh thuê “hồn kinh”. Bút pháp sử thi đã dựng người nông dân thành một tượng đài.

Phần Ai vãn chuyển sang giọng thống thiết. Tác giả tiếc cho những người “những lăm lòng nghĩa lâu dùng” mà “xác phàm vội bỏ”. Nỗi đau lan ra cả không gian: “Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; / Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ”. Rồi thu vào những cảnh đời cụ thể: “Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều; / Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ”. Nhưng xen giữa tiếng khóc là lời khẳng định: “Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; / Còn hơn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”. Đó là quan niệm sống chết cao đẹp: chết vinh còn hơn sống nhục.

Phần Kết khẳng định sự bất tử của nghĩa sĩ: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc, linh hồn theo giúp cơ binh”. Danh thơm của họ “đồn sáu tỉnh”, “tiếng ngay trải muôn đời”. Câu “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo” khép lại bài văn bằng nỗi đau chung của một dân tộc chưa thể nguôi.

Thành công của bài văn tế nằm ở sự hòa quyện giữa chất trữ tình sâu lắng và bút pháp hiện thực, giữa cảm hứng bi và cảm hứng tráng. Ngôn ngữ vừa trang trọng vừa mộc mạc, đậm chất Nam Bộ (“cui cút”, “bòng bong”, “trối kệ”); nghệ thuật đối được vận dụng nhuần nhuyễn; giọng văn khi hào hùng, khi nghẹn ngào.

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc là một khúc ca bi tráng về những người nông dân đã hi sinh vì đất nước. Hơn một thế kỉ rưỡi đã qua, bài văn vẫn nhắc người đọc hôm nay nhớ ơn những con người bình dị đã làm nên lịch sử.

Mẫu 3

Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ Cần Giuộc – mẫu 3

931 từ

Trước Nguyễn Đình Chiểu, người nông dân hầu như chỉ xuất hiện trong văn học trung đại như những bóng mờ: người dân lành chịu cảnh lầm than, đối tượng để vua quan thương xót. Phải đến Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, họ mới trở thành nhân vật trung tâm, được ngợi ca như những người anh hùng. Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong bài văn tế hiện lên qua ba nét: xuất thân bình dị, tấm lòng yêu nước và tinh thần chiến đấu, hi sinh.

Nét đầu tiên là xuất thân. Nguyễn Đình Chiểu không giấu cái nghèo, cái lam lũ của họ: “cui cút làm ăn”, “toan lo nghèo khó”. Họ “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung”, “chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ”. Cặp câu đối “Việc cuốc, việc cày, việc bừa, việc cấy, tay vốn quen làm; / Tập khiên, tập mác, tập giáo, tập cờ, mắt chưa từng ngó” vẽ ra rõ ràng thế giới của họ: bốn việc nhà nông quen thuộc đối với bốn thứ binh khí xa lạ. Đây là những người chưa bao giờ nghĩ mình sẽ cầm vũ khí.

Nét thứ hai là tấm lòng yêu nước, thể hiện qua sự chuyển biến tình cảm rất tự nhiên. Khi giặc đến, họ lo âu; họ trông chờ triều đình “như trời hạn trông mưa” – một so sánh của người làm ruộng. Nhưng chờ mãi không thấy quan quân, còn giặc thì ngày càng lộng hành, lòng họ chuyển sang căm ghét: “ghét thói mọi như nhà nông ghét cỏ”. Cỏ dại là kẻ thù của mùa màng; giặc là kẻ thù của quê hương – người nông dân hiểu điều đó bằng chính kinh nghiệm của mình. Căm ghét lên đến cực điểm: “muốn tới ăn gan”, “muốn ra cắn cổ”. Và điều đáng quý nhất là họ nhận ra trách nhiệm của mình. Họ biết đất nước là “một mối xa thư đồ sộ”, không thể để kẻ gian “chém rắn đuổi hươu”, “treo dê bán chó”. Nên họ tự nguyện đứng lên: “Nào đợi ai đòi ai bắt”.

Nét thứ ba là tinh thần chiến đấu và hi sinh. Họ ra trận với tư cách “dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ”, không được huấn luyện, không có vũ khí hiện đại. Nguyễn Đình Chiểu kê ra từng thứ họ mang theo: manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, dao phay. Sự thô sơ ấy đặt cạnh “đạn nhỏ, đạn to”, “tàu thiếc, tàu đồng” của giặc càng làm nổi bật lòng dũng cảm. Họ “đạp rào lướt tới”, “xô cửa xông vào”, “liều mình như chẳng có”; “kẻ đâm ngang, người chém ngược”; “bọn hè trước, lũ ó sau”. Những hình ảnh ấy vừa chân thực – đúng là cách đánh của những người nông dân – vừa mang tầm vóc sử thi.

Họ ngã xuống, và cái chết của họ cũng mang vẻ đẹp riêng. Họ không chết vì “án cướp, án gian” mà chết vì đánh giặc; họ chọn “thà thác mà đặng câu địch khái” chứ không chịu “chữ đầu Tây”. Sự hi sinh ấy khiến họ trở thành bất tử: “sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”, “tiếng ngay trải muôn đời ai cũng mộ”.

Hình tượng người nông dân nghĩa sĩ là đóng góp lớn của Nguyễn Đình Chiểu cho văn học dân tộc. Qua hình tượng ấy, ta thấy vẻ đẹp của những con người bình dị mà vĩ đại, và thấy tấm lòng của nhà thơ luôn đứng về phía nhân dân.

Mẫu 4

Phân tích đoạn tái hiện trận đánh trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – mẫu 4

794 từ

Trong phần Thích thực của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, có một đoạn văn được xem là đẹp và hào hùng nhất: đoạn tái hiện trận tập kích đồn giặc. Chỉ bằng vài cặp câu biền ngẫu, Nguyễn Đình Chiểu đã dựng lên một bức tranh chiến đấu sống động và một tượng đài người nông dân sừng sững.

Đoạn văn mở đầu bằng lời cảm thán “Khá thương thay!” – vừa thương vừa phục. Tác giả nhấn mạnh xuất thân không chuyên của nghĩa quân: “Vốn chẳng phải quân cơ quân vệ, theo dòng ở lính diễn binh; / Chẳng qua là dân ấp dân lân, mến nghĩa làm quân chiêu mộ”. Hai chữ “mến nghĩa” giải thích tất cả: họ ra trận vì nghĩa, không vì bổng lộc hay mệnh lệnh.

Rồi tác giả kể ra sự thiếu thốn: “Mười tám ban võ nghệ, nào đợi tập rèn; / Chín chục trận binh thư, không chờ bày bố”. Họ không học võ, không học binh pháp. Về trang bị, “ngoài cật có một manh áo vải”, “trong tay cầm một ngọn tầm vông”; hỏa mai là “rơm con cúi”, gươm là “dao phay”. Những từ ngữ mộc mạc ấy vốn chỉ thuộc về đời sống nông thôn, nay đi vào văn tế – một thể văn trang trọng – và trở nên thiêng liêng.

Vậy mà với những thứ ấy, họ “cũng đốt xong nhà dạy đạo kia”, “cũng chém rớt đầu quan hai nọ”. Hai chữ “cũng” lặp lại chứa niềm tự hào: dù thô sơ, họ vẫn làm được việc lớn.

Cao trào của đoạn văn là khí thế xung trận:

Chi nhọc quan quản gióng trống kỳ trống giục, đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không;
Nào sợ thằng Tây bắn đạn nhỏ, đạn to, xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có.
Kẻ đâm ngang, người chém ngược, làm cho mã tà, ma ní hồn kinh;
Bọn hè trước, lũ ó sau, trối kệ tàu thiếc, tàu đồng súng nổ.

Nhịp câu ngắn, dồn dập như nhịp trống trận. Các động từ mạnh “đạp”, “lướt”, “xô”, “xông”, “đâm”, “chém” liên tiếp xuất hiện. Phép đối “đâm ngang – chém ngược”, “hè trước – ó sau” gợi cảnh nghĩa quân tràn vào từ khắp phía, tiếng hò hét vang dội. Thái độ “coi giặc cũng như không”, “liều mình như chẳng có”, “trối kệ” súng giặc cho thấy họ đã vượt qua nỗi sợ cái chết. Kẻ thù, dù có “đạn nhỏ, đạn to”, “tàu thiếc, tàu đồng”, vẫn phải “hồn kinh”.

Đoạn văn là sự kết hợp hài hòa giữa bút pháp hiện thực và bút pháp sử thi. Hiện thực ở chỗ mọi chi tiết đều đúng với người nông dân Nam Bộ; sử thi ở chỗ những con người ấy được đặt vào khung cảnh hoành tráng, được khắc họa với tư thế hiên ngang. Đọc đoạn văn, ta không chỉ thấy một trận đánh mà thấy cả sức mạnh tiềm tàng của nhân dân khi đất nước lâm nguy.

Mẫu 5

Cảm nhận tiếng khóc bi tráng trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – mẫu 5

762 từ

Văn tế là thể văn của nước mắt. Nhưng nước mắt trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc không chỉ là nước mắt của người đưa tiễn. Đó là tiếng khóc bi tráng – đau thương mà không bi lụy, xót xa mà vẫn ngẩng cao đầu.

Tiếng khóc trước hết dành cho người đã khuất. Tác giả tiếc cho những người mang “lòng nghĩa” lớn mà “xác phàm vội bỏ”, chí chưa thành đã phải nằm xuống. Họ nằm lại nơi sa trường, “da ngựa bọc thây”, chẳng cần đợi “gươm hùm treo mộ” – coi cái chết vì nghĩa là điều may mắn chứ không mong được ban thưởng. Lời văn chùng xuống, vừa day dứt vừa cảm phục.

Tiếng khóc lan ra cả quê hương: “Đoái sông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; / Nhìn chợ Trường Bình, già trẻ hai hàng lụy nhỏ”. Nỗi đau không của riêng ai mà của cả một vùng đất, cả con người lẫn cỏ cây. Rồi tiếng khóc thu vào những mái nhà cụ thể:

Đau đớn bấy! Mẹ già ngồi khóc trẻ, ngọn đèn khuya leo lét trong lều;
Não nùng thay! Vợ yếu chạy tìm chồng, cơn bóng xế dật dờ trước ngõ.

Hai thán từ “đau đớn bấy”, “não nùng thay” mở đầu hai vế đối. Người mẹ già bên ngọn đèn leo lét, người vợ yếu chạy tìm chồng trong bóng chiều – những hình ảnh vừa cụ thể vừa ám ảnh, gợi cái trống vắng không gì bù đắp của những gia đình mất người thân.

Nhưng xen giữa tiếng khóc là tiếng nói khẳng định. Tác giả khẳng định nghĩa sĩ chết vì đánh giặc chứ không vì tội lỗi; khẳng định lựa chọn “thà thác mà đặng câu địch khái” còn hơn “chịu chữ đầu Tây”; và khẳng định sự bất tử: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”, “danh thơm đồn sáu tỉnh”, “tiếng ngay trải muôn đời”. Chính những lời khẳng định ấy làm cho tiếng khóc trở nên tráng – nó nâng những người đã khuất lên tầm vóc anh hùng.

Tiếng khóc còn chứa nỗi căm hờn và lo âu cho vận nước: giặc vẫn “đóng sông Bến Nghé”, “bốn phía mây đen”, ai sẽ cứu “một phường con đỏ”? Câu kết “Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân” cho thấy nỗi đau không dừng ở một trận đánh mà là nỗi đau của cả dân tộc trước cảnh nước mất.

Tiếng khóc trong bài văn tế vì thế vừa là tiếng khóc của người đứng tế, của gia đình nghĩa sĩ, vừa là tiếng khóc của nhân dân, của thời đại. Nó đau thương vì mất mát là có thật; nó bi tráng vì sự hi sinh ấy cao cả. Đó là lí do bài văn tế của Nguyễn Đình Chiểu vẫn làm rung động người đọc hôm nay.

Mẫu 6

Phân tích nghệ thuật Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc – mẫu 6

745 từ

Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc được đánh giá là bài văn tế hay nhất của văn học trung đại Việt Nam không chỉ vì nội dung yêu nước mà còn vì những thành công nghệ thuật đặc sắc.

Trước hết là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trữ tình và chất hiện thực. Văn tế vốn là thể văn trữ tình, bày tỏ niềm thương tiếc. Nguyễn Đình Chiểu giữ được cảm xúc thống thiết ấy, nhưng đồng thời đưa vào bài văn những chi tiết hiện thực rất cụ thể: việc cuốc, cày, bừa, cấy; manh áo vải, ngọn tầm vông, rơm con cúi, dao phay; nhà dạy đạo, quan hai, tàu thiếc, tàu đồng; sông Cần Giuộc, chợ Trường Bình. Nhờ đó, người nghĩa sĩ không phải là hình tượng ước lệ mà là con người thật của đồng ruộng Nam Bộ.

Thứ hai là bút pháp xây dựng hình tượng. Tác giả đặt người nông dân trong thế tương phản: xuất thân bình thường – hành động phi thường; vũ khí thô sơ – kẻ thù hiện đại; cái chết – sự bất tử. Chính sự tương phản ấy làm nổi bật tầm vóc anh hùng của họ. Bút pháp hiện thực kết hợp với cảm hứng sử thi đã dựng nên một tượng đài.

Thứ ba là ngôn ngữ. Bài văn tế có nhiều từ Hán Việt, điển cố trang trọng (“phong hạc”, “đoạn kình”, “bộ hổ”, “da ngựa bọc thây”, “địch khái”), nhưng cũng dùng rất nhiều từ ngữ bình dị, đậm màu sắc Nam Bộ (“cui cút”, “bòng bong”, “trắng lốp”, “đen sì”, “hè”, “ó”, “trối kệ”). Sự kết hợp này làm bài văn vừa trang nghiêm, xứng với một lễ tế, vừa gần gũi với người nông dân – những người được tế.

Thứ tư là nghệ thuật đối và câu văn biền ngẫu. Hầu như mọi câu trong bài đều có hai vế đối nhau cân chỉnh: “Súng giặc đất rền; / Lòng dân trời tỏ”, “Việc cuốc, việc cày… / Tập khiên, tập mác…”, “Đoái sông Cần Giuộc… / Nhìn chợ Trường Bình…”. Phép đối không gò bó mà tạo nhịp điệu, giúp bài văn dễ đọc, dễ nhớ, phù hợp với việc đọc lên trong lễ tế.

Cuối cùng là giọng điệu. Giọng văn thay đổi linh hoạt theo nội dung: bùi ngùi khi kể cuộc đời lam lũ, sôi sục khi tả lòng căm thù, dồn dập khi tả trận đánh, thống thiết khi khóc thương, trang nghiêm khi khẳng định sự bất tử. Tất cả hòa vào âm hưởng chung bi tráng.

Những thành công nghệ thuật ấy cho thấy Nguyễn Đình Chiểu đã đổi mới thể văn tế truyền thống, biến nó thành phương tiện ghi lại một thời kì lịch sử và dựng tượng đài cho những người anh hùng vô danh.

Mẫu 7

Phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (bài học sinh giỏi) – mẫu 7

1.316 từ

Có ý kiến cho rằng: với Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, lần đầu tiên trong lịch sử văn học dân tộc có một tượng đài nghệ thuật sừng sững về người nông dân nghĩa sĩ chống giặc cứu nước, tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời của họ. Nhận định ấy chỉ ra hai điều: tính mới mẻ (“lần đầu tiên”) và tầm vóc (“tượng đài sừng sững”) của hình tượng. Đọc lại bài văn tế, ta thấy nhận định hoàn toàn xác đáng.

Vì sao nói là “lần đầu tiên”? Văn học trung đại Việt Nam vốn là văn học của tầng lớp nho sĩ, quan lại. Người anh hùng trong văn chương thường là tướng lĩnh, vua chúa, trang hào kiệt; người nông dân nếu có xuất hiện thì chỉ là “dân đen”, “con đỏ” cần được che chở, thương xót. Nguyễn Đình Chiểu đã làm một cuộc đảo ngược: ông đặt người nông dân vào vị trí trung tâm, gọi họ là “nghĩa sĩ”, tế họ trang trọng như tế các bậc anh hùng. Bản thân việc ấy đã là một cái nhìn mới mẻ, dân chủ, bắt nguồn từ chỗ nhà thơ sống cùng nhân dân và hiểu nhân dân.

Vì sao nói là “tượng đài”? Bởi người nông dân nghĩa sĩ được khắc họa ở tư thế đẹp nhất, lớn lao nhất. Họ được đặt trong bối cảnh “súng giặc đất rền; lòng dân trời tỏ” – một không gian rộng lớn của đất trời. Họ hành động với khí thế áp đảo: “đạp rào lướt tới, coi giặc cũng như không”, “xô cửa xông vào, liều mình như chẳng có”. Và họ được khẳng định là bất tử: “Sống đánh giặc, thác cũng đánh giặc”. Bút pháp sử thi, những câu văn biền ngẫu nhịp nhàng, giọng điệu hào hùng đã tạc nên hình tượng ấy như tạc một pho tượng đứng giữa trời.

Nhưng điều làm nên giá trị đặc biệt của tượng đài là nó “tương xứng với phẩm chất vốn có ngoài đời”. Nguyễn Đình Chiểu không tô vẽ, không lí tưởng hóa. Người nghĩa sĩ vẫn “cui cút làm ăn”, vẫn “chỉ biết ruộng trâu”, vẫn mặc “manh áo vải”, cầm “ngọn tầm vông”. Họ ghét giặc “như nhà nông ghét cỏ”, mong quan quân “như trời hạn trông mưa” – những so sánh lấy từ chính đời sống của họ. Tượng đài được dựng bằng chất liệu hiện thực, nên nó vừa lớn lao vừa gần gũi. Cái anh hùng không đến từ phép màu mà đến từ lòng yêu nước và ý thức trách nhiệm của những con người bình thường.

Tượng đài ấy còn mang vẻ đẹp bi tráng. Những người nghĩa sĩ đã ngã xuống; mẹ già khóc con, vợ yếu tìm chồng; cỏ cây mấy dặm sầu giăng. Tác giả không che giấu sự mất mát. Nhưng chính trong mất mát, vẻ đẹp của họ càng sáng lên: họ chọn “thà thác mà đặng câu địch khái” chứ không chịu “chữ đầu Tây”. Cái bi và cái tráng hòa quyện, làm cho tượng đài vừa khiến người ta cảm phục vừa khiến người ta rưng rưng.

Nhìn rộng hơn, hình tượng người nông dân nghĩa sĩ mở ra một hướng mới cho văn học dân tộc. Sau Nguyễn Đình Chiểu, người nông dân ngày càng trở thành nhân vật quan trọng của văn chương, từ văn học hiện thực đến văn học kháng chiến. Có thể nói, bài văn tế là viên gạch đầu tiên cho dòng văn học viết về nhân dân với tư cách chủ thể lịch sử.

Nhận định trên đã chỉ đúng giá trị lớn nhất của Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc. Đọc bài văn tế, người trẻ hôm nay càng hiểu rằng lịch sử dân tộc được viết nên không chỉ bởi những tên tuổi lớn mà còn bởi biết bao con người bình dị, vô danh. Nhớ ơn họ là cách để sống xứng đáng với sự hi sinh ấy.

Kết luận

Khi phân tích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, em nên bám sát bố cục bốn phần, tập trung vào hình tượng người nông dân nghĩa sĩ (xuất thân – lòng yêu nước – chiến đấu – hi sinh) và tiếng khóc bi tráng của tác giả; dẫn chứng cần trích đúng các câu văn tiêu biểu. Các mẫu trên có độ dài và góc nhìn khác nhau để em chọn theo yêu cầu đề.

Xem thêm:

Vietnammm
VJOL
s666
s666
cakhiatv
xoilac
gavangtv
trực tiếp bóng đá
xoilac tv
xoilac tv
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
xem bóng đá trực tiếp
socolive
trực tiếp bóng đá
cakhiatv
thapcamtv
90phut
luongsontv
Socolive
Cakhiatv
Tiếu lâm tv
90phut
Thapcamtv
Luongsontv
sunwin
hitclub
go88
go88
kèo nhà cái
game bài
sunwin20
lô đề uy tín
https://hitclub3.jp.net/
https://kqbd.deal/
7m
789club
789club
b52
bomwin
https://trangcacuocbongda.bio/
iwin
vaobet
hitclub
https://tylekeonhacai.top/
https://sunwinn.za.com/
https://go881.jp.net/
7m
789club
game bài đổi thưởng
Rikvip
Socolive TV
Socolive TV
kèo nhà cái
hitclub
sunwin
789club
Kèo nhà cái
b52 club
b52 club
sunwin
kèo nhà cái
kèo bóng đá hôm nay
cá cược bóng đá
cakhiatv
socolive
xoilac
Kèo nhà cái
b52 club
ok9
https://fly88h.com/
789bet
tỷ lệ bóng đá hôm nay
tỷ lệ bóng đá hôm nay
Twin68
ww88
hitclub
tỷ lệ kèo
tylekeonhacai
V9bet
tỷ lệ kèo
nổ hũ
sunwin
188bet
Hit club
hitclub
Game bài 789club
BongdaNET
keonhacai5
Sunwin
hitclub
98win
RR88
123Bet
kèo nhà cái 5
NOHU
https://lucky88.us/
kubet
Sunwin
https://da888.app/
five88
da88
vin88
Five88
MAY88
FABET
sunwin
sunwin
sin88
Sumclub
Sao789
tỷ lệ kèo nhà cái
V88
ww88
ww88
Gamvip
Winclub
Xeng88
Vip69
Vic88
Kwin
Sumvip
Hit Club
https://cm88.so/
https://keonhacai.gb.net/
kèo nhà cái
Iwin68
dn88
https://ae8888.gr.com/
cakhiatv
xôi lạc tv
socolive
JBO
CakhiaTV
Socolive
b52club
kèo nhà cái 55
HITCLUB
lô đề online
https://mm88.blog/
8 DAY
kèo nhà cái
88xx
go99
sc88
23win
go8
go8
go99
33win
tỷ lệ kèo
kèo nhà cái
Go88
nowgoal
tỷ lệ kèo bóng đá anh
soi kèo nhà cái
Tài xỉu online
https://keonhacai6.io/
Luck8
B29
go8
https://sunwinor.com/
Rikvip
B52club
Kèo Nhà Cái
Go88
Socolive
Sutbongtv
Socolive
hitclub
bet168
game bài đổi thưởng
w 88
tỷ lệ kèo nhà cái
sun win
kết quả bóng đá
VN88
hello88
sunwin
f168
uu88
nổ hũ
Kèo Nhà Cái
Tài Xỉu
rikvip
xocdia88
xóc đĩa online
88vin
bay789
kwin
sunwin
https://sunwin35.io/
mu88
sunwin
B52
qq887p com
qq88 social
kèo nhà cái
kèo nhà cái
https://sunwins.eu.com
hitclub
Game bài đổi thưởng
v9bet
kubet
go88
b52 club
https://98win.kiwi/
au88
B52club
kèo nhà cái 5
https://sunwinkt.com/
AE888
Sunwin
go88
kqbd
Go88
kèo nhà cái
hit club
https://keonhacaim88.info/
trực tiếp bóng đá
Sunwin
sunwin
ok9
789Club
Sumclub
sonclub
alo789
bet88
123b
cm88
go 88
https://sunwinvy.com/
xoilactv
http://taixiuonline.markets/
nohu90 com
23win
game bai doi thuong
hitclub
sunwin
tài xỉu 789club
Bong88
Tỷ lệ kèo
Sunwin
hitclub
789club
trực tiếp bóng đá socolive
cm88
https://sunwin.vision/
hitclub
du88
du88
9bet
9bet
sunwin
lucky88
uk88
kèo nhà cái 5
Sunwin
https://ae888.co.com/
mu88
sunwin
sunwin
trang cá cược bóng đá
sunwin
GO99
789WIN
Lucky88
AO88
789Club
Nhà cái Xocdia88
8xbet
fb88
https://shbet800.com/
https://789bethv.com/
sunwin
sunwin
HITCLUB
https://keonhacai.forsale/
bay789
mu88
mu88
keo nha cai 5
đánh đề online
qq8876 net
https://metruyen.biz/
789 Club
HITCLUB
tỷ lệ kèo
luck8
tg88
789bet
789club
qh88
kubet
S8
Sunwin
Go88
Hay88
Hay88
Hay88
Hay88
https://go88n.co/
8xbet
b52club
kèo nhà cái
game bài đổi thưởng
https://ae888li.com/
79KING
https://npunks.io/
sun win
sun win
bắn cá đổi thưởng
Luckywin
RIK VIP
UY88
sun win
https://keonhacaingoaihanganh.com/
au88
SUNWIN
mê truyện
Xóc đĩa
tài xỉu
đánh đề online
kèo nhà cái
nhà cái uy tín
https://dstruct.io
sunwin
nha cai uy tin
789 club
99ok
VN88
90phut
trực tiếp bóng đá
Tai xiu
789club
nowgoal
J88
sunwin
go88
https://789betlove.com/
rikvip
hitclub
lô đề online
https://tylekeonhacai.co.com/
789club
Exness
kubet