Tính đa nghĩa là đặc điểm của văn bản văn học khi cùng một hình ảnh, một câu chữ có thể mang nhiều lớp nghĩa cùng lúc, thường gồm nghĩa thực trên bề mặt và nghĩa hàm ẩn ở bên dưới, khiến mỗi người đọc, mỗi thời đại có thể khám phá thêm. Bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương là ví dụ quen thuộc nhất về tính đa nghĩa của văn bản văn học.
| Nghĩa ngắn | Một văn bản chứa nhiều tầng nghĩa, không chỉ một cách hiểu duy nhất |
| Thường gồm | Nghĩa thực (nghĩa nổi, tả đúng sự vật) và nghĩa hàm ẩn (nghĩa ẩn dụ, biểu tượng) |
| Tạo ra bởi | Hình tượng, ẩn dụ, biểu tượng, cách xưng hô, khoảng trống người viết để lại |
| Giới hạn | Mọi cách hiểu phải dựa vào chữ nghĩa của văn bản, không suy diễn tùy tiện |
| Học ở | Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo, tập một, văn bản nghị luận về Bánh trôi nước (trang 43–45) |

Tính đa nghĩa: một chiếc bánh, hai câu chuyện
Đọc Bánh trôi nước lần đầu, một em lớp 7 có thể chỉ thấy cách làm bánh: bột trắng, viên tròn, thả vào nồi thì chìm rồi nổi. Đọc lại khi lớn hơn, cũng bốn câu ấy lại kể chuyện một người phụ nữ xinh đẹp, long đong mà vẫn giữ lòng son. Bài thơ không đổi chữ nào, chỉ có người đọc nhìn sâu thêm một tầng. Đó là tính đa nghĩa.
Nói chặt hơn, tính đa nghĩa là khả năng của văn bản văn học chứa đựng nhiều lớp nghĩa trong cùng một hệ thống hình ảnh, ngôn từ. Văn bản thông tin cố gắng để mọi người hiểu giống nhau; văn bản văn học thì ngược lại, nó dùng hình tượng, mà hình tượng luôn gợi nhiều hơn những gì được tả. Văn bản nghị luận về Bánh trôi nước trong sách Ngữ văn 9 bộ Chân trời sáng tạo gọi hai lớp nghĩa chính là nghĩa thực (còn gọi là nghĩa nổi) và nghĩa ẩn dụ; phần soạn bài trên các trang học tập như Lời giải hay và VietJack đều bám theo cách chia hai tầng này. Xem các câu hỏi trong sách ở bài soạn văn bản về tính đa nghĩa của Bánh trôi nước.
Đọc Bánh trôi nước theo hai tầng nghĩa
Thân em vừa trắng lại vừa tròn,
Bảy nổi ba chìm với nước non.
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
| Câu thơ | Nghĩa thực: chiếc bánh | Nghĩa hàm ẩn: người phụ nữ |
|---|---|---|
| Câu 1 | Bánh làm từ bột nếp trắng, viên tròn | Vẻ đẹp đầy đặn, trong trắng của người con gái |
| Câu 2 | Luộc bánh: lúc chìm, lúc nổi trong nồi nước | Cuộc đời lênh đênh, lận đận giữa đời |
| Câu 3 | Bánh rắn hay nát là do người nhào bột, nặn bánh | Số phận phụ thuộc vào người khác, không tự quyết được |
| Câu 4 | Nhân đường bên trong đỏ như son | Tấm lòng son sắt, thủy chung không đổi |
Hai tầng nghĩa không loại trừ nhau. Chính vì tầng thứ nhất tả đúng chiếc bánh, tầng thứ hai mới thuyết phục: người đọc thấy từng chi tiết làm bánh khớp với từng chặng đời người. Chữ “tròn” ở câu đầu vừa là hình dáng của bánh, vừa có thể hiểu là sự trọn vẹn, đầy đặn của nhan sắc. Chữ “son” ở câu cuối vừa là màu đường đỏ, vừa là lòng son. Muốn đọc kĩ hơn các lời bình về bài thơ, xem tuyển bài văn phân tích Bánh trôi nước.
Tính đa nghĩa còn có ở nhiều bài khác. Bài Thu điếu của Nguyễn Khuyến tả một ao thu lạnh, chiếc thuyền câu bé tẻo teo; nhiều người đọc thấy thêm một tầng tâm sự buồn của nhà nho trước thời thế. Hai cách đọc ấy cùng đứng được, vì cái tĩnh, cái lạnh trong bài vừa là cảnh vừa là tình; bài soạn bài Thu điếu theo sách Kết nối tri thức có câu hỏi đi theo hướng này.
Nhờ đâu một văn bản có nhiều tầng nghĩa?
- Hình ảnh mang tính ẩn dụ, biểu tượng. Chiếc bánh trôi được tả kĩ đến mức nó đứng thay được cho một con người. Phép ẩn dụ và bốn kiểu ẩn dụ là phương tiện tạo đa nghĩa hay gặp nhất.
- Cách xưng hô gợi liên tưởng. Mở bài bằng “Thân em” là bắt nhịp với cả một dòng ca dao than thân của người phụ nữ. Người đọc nghe chữ ấy là biết có một con người đang lên tiếng sau chiếc bánh.
- Từ ngữ nhiều nghĩa được đặt đúng chỗ. “Tròn”, “son”, “rắn nát”, “nước non” đều có ít nhất hai nghĩa, và bài thơ để cả hai cùng sống.
- Khoảng trống người viết để lại. Tác giả không nói thẳng “tôi đang nói về phụ nữ”. Chính chỗ không nói ra buộc người đọc tự lấp vào, và mỗi người lấp bằng vốn sống riêng.
- Người đọc ở những thời đại khác nhau. Cùng một bài, người xưa có thể đọc thấy lời than thân; người hôm nay còn đọc thấy cả tiếng nói khẳng định giá trị của người phụ nữ.
Tính đa nghĩa không phải là từ đa nghĩa
| Tiêu chí | Tính đa nghĩa của văn bản | Từ đa nghĩa |
|---|---|---|
| Thuộc về | Cả văn bản, cả hình tượng | Một từ trong hệ thống từ vựng |
| Lĩnh vực | Đọc hiểu văn học | Tiếng Việt, từ vựng học |
| Ví dụ | Bánh trôi nước vừa nói chiếc bánh vừa nói thân phận con người | chân: chân người, chân bàn, chân núi |
| Có tra từ điển được không | Không, phải đọc và lí giải | Có, các nghĩa được ghi trong từ điển |
Một văn bản đa nghĩa thường được tạo nên nhờ nhiều từ đa nghĩa, nhưng hai khái niệm khác tầm. Muốn ôn phần nghĩa gốc, nghĩa chuyển của từ, xem bài từ đa nghĩa và cách phân biệt với từ đồng âm.
Cần nhớ thêm một điều: đa nghĩa không có nghĩa là hiểu sao cũng được. Một cách hiểu chỉ đứng được khi nó dựa vào chữ trong bài. Nói Bánh trôi nước viết về thân phận phụ nữ thì có “thân em”, có “bảy nổi ba chìm”, có “tay kẻ nặn” làm chứng; còn nói bài thơ chê người làm bánh dở thì không có câu chữ nào đỡ cho cách hiểu ấy.
Bài luyện đọc hai tầng nghĩa, có đáp án
Câu 1: Chỉ ra nghĩa thực và nghĩa hàm ẩn của câu thơ “Bảy nổi ba chìm với nước non”.
Đáp án: Nghĩa thực: khi luộc, bánh trôi lúc chìm xuống đáy nồi, lúc nổi lên mặt nước. Nghĩa hàm ẩn: cuộc đời người phụ nữ lênh đênh, nhiều lận đận. Câu thơ dựa vào thành ngữ dân gian “ba chìm bảy nổi” vốn dùng để nói về những cuộc đời long đong.
Câu 2: Chữ “rắn nát” và cụm “tay kẻ nặn” gợi ra điều gì về thân phận con người?
Đáp án: Bánh rắn hay nát là do người nặn bánh, chiếc bánh không tự chọn được. Ở tầng nghĩa thứ hai, đó là thân phận người phụ nữ xưa phụ thuộc vào người khác, không tự làm chủ cuộc đời mình.
Câu 3: Nhận định “Văn bản đa nghĩa thì người đọc muốn hiểu thế nào cũng đúng” đúng hay sai?
Đáp án: Sai. Tính đa nghĩa mở ra nhiều cách hiểu, nhưng mỗi cách hiểu phải có bằng chứng trong câu chữ của văn bản. Cách hiểu không có chỗ dựa trong bài là suy diễn, không phải đa nghĩa.
Câu 4: Câu ca dao “Thân em như trái bần trôi / Gió dập sóng dồi biết tấp vào đâu” có mấy tầng nghĩa?
Đáp án: Có hai tầng. Tầng thực: quả bần rụng xuống sông, bị gió sóng đẩy đi, không biết dạt vào bờ nào. Tầng hàm ẩn: người phụ nữ xưa không tự quyết được cuộc đời mình, trôi nổi theo hoàn cảnh. Cách mở đầu “Thân em” cũng là chỗ Bánh trôi nước kế thừa ca dao than thân.
Câu 5: Viết đoạn văn 5–7 câu trình bày cách em hiểu chữ “son” trong câu kết Bánh trôi nước.
Đáp án tham khảo: Đoạn văn nên có ba ý: (1) nghĩa thực, nhân đường đỏ bên trong chiếc bánh; (2) nghĩa hàm ẩn, tấm lòng son sắt, thủy chung; (3) giọng điệu của câu thơ với chữ “mà” đầu câu như một lời khẳng định cứng cỏi, dù hoàn cảnh ra sao vẫn giữ phẩm giá. Kết đoạn có thể nêu suy nghĩ của em về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ.
Khi trả lời dạng câu hỏi này, cách an toàn là luôn viết đủ hai vế “nghĩa thực là…, nghĩa hàm ẩn là…”, rồi mới bình. Bỏ qua tầng thực để nói ngay về thân phận phụ nữ là mất một nửa ý mà người chấm chờ đợi.
Đọc nhiều tầng nghĩa trong giờ Ngữ văn 9
Tính đa nghĩa của văn bản văn học là gì, nói ngắn gọn?
Là việc một văn bản văn học có thể được hiểu theo nhiều lớp nghĩa cùng lúc, thường là nghĩa thực trên bề mặt và nghĩa hàm ẩn ở bên dưới, nhờ hình tượng, ẩn dụ và các khoảng trống trong lời văn.
Vì sao văn bản văn học có tính đa nghĩa?
Vì văn học nói bằng hình tượng chứ không nói bằng khái niệm. Một hình ảnh luôn gợi nhiều hơn điều nó tả, lại được tiếp nhận bởi những người đọc có vốn sống, thời đại khác nhau, nên các lớp nghĩa cứ được mở thêm.
Tính đa nghĩa trong bài thơ Bánh trôi nước thể hiện ở đâu?
Ở việc cả bốn câu thơ đều đọc được theo hai tầng: tả chiếc bánh trôi từ lúc nặn tới lúc chín, và kể về nhan sắc, thân phận, phẩm chất của người phụ nữ trong xã hội xưa.
Văn bản thông tin có tính đa nghĩa không?
Thường là không, và cũng không nên có. Văn bản thông tin cần chính xác để mọi người hiểu giống nhau; nếu một bản hướng dẫn hay một bản tin có thể hiểu theo hai cách, đó là lỗi diễn đạt chứ không phải giá trị nghệ thuật.