Tiều tụy là có dáng vẻ tàn tạ, xơ xác, hốc hác đến mức trông thảm hại, thường vì ốm lâu, lo buồn hay vất vả kéo dài. Từ này tả được cả người lẫn cảnh: một gương mặt tiều tụy sau đợt ốm, một mái nhà tiều tụy sau mùa bão. Người ta cũng hay gõ “tiều tuỵ” (dấu nặng đặt dưới chữ y); đó vẫn là một từ, chỉ khác kiểu đặt dấu.
| Nghĩa ngắn | Tàn tạ, xơ xác, gầy mòn đến thảm hại |
| Gốc từ | Hán Việt 憔悴: tiều (憔) và tụy (悴), cùng nghĩa khốn khổ, hốc hác |
| Loại từ | Tính từ |
| Sắc thái | Nặng, gợi thương cảm; hợp văn viết hơn lời nói đùa |

Tiều tụy: hai chữ Hán cùng mang bộ tâm
Nhìn mặt chữ 憔悴 sẽ thấy một chi tiết dễ nhớ: cả hai chữ đều đứng cạnh bộ tâm (忄), bộ chỉ lòng người. Từ điển Hán Việt giảng 憔悴 là khốn khổ, hốc hác; có sách giải là buồn khổ khô héo. Nghĩa là cái gầy mòn ở đây không đơn thuần do thiếu ăn, mà thường đi cùng một nỗi lo, một nỗi buồn ở bên trong.
Chữ tụy (悴) đứng một mình còn có nghĩa lo buồn, suy giảm, sa sút. Tiếng Hán còn một lối viết khác của cả cụm là 顦顇, đọc vẫn là tiều tụy. Ở tiếng Việt, hai âm tiết này hầu như chỉ đi cùng nhau; nói “tiều” hay “tụy” riêng lẻ thì chẳng ai hiểu là gầy mòn. Muốn biết vì sao những từ như thế nghe trang trọng hơn từ thuần Việt, có thể xem thêm bài về sắc thái văn chương của lớp từ gốc Hán.
Người tiều tụy, căn nhà cũng tiều tụy
Mục từ trong từ điển tiếng Việt giải tiều tụy là có dáng vẻ tàn tạ, xơ xác đến thảm hại, và ví dụ đi kèm lại là cảnh vật chứ không phải người: quán xá, mái lều. Điều này cho thấy từ dùng rộng hơn nhiều người nghĩ.
- Tả người: Sau ba tháng chăm mẹ nằm viện, chị tiều tụy hẳn, mắt thâm quầng, má hóp lại.
- Tả cảnh vật: Mùa nước rút, dãy quán ven sông trông tiều tụy, mái tôn hoen gỉ, cột gỗ bạc màu.
- Tả cây cối, đồ vật: Chậu lan quên tưới cả tuần đã tiều tụy như sắp chết.
Điểm chung của ba câu là hai yếu tố: trông sa sút hẳn so với trước, và sự sa sút ấy khiến người nhìn thấy xót. Nếu chỉ gầy mà vẫn khỏe khoắn, tươi tỉnh thì không gọi là tiều tụy.
“Tư nhân độc tiều tụy” trong thơ Đỗ Phủ
Trong bài thứ hai của chùm Mộng Lý Bạch, Đỗ Phủ nằm mơ thấy bạn mình rồi nghĩ đến cảnh người tài bị gạt ra rìa. Hai câu nổi tiếng nhất của bài đặt sự náo nhiệt của kinh đô bên cạnh một con người đơn độc:
冠蓋滿京華,斯人獨憔悴
Quan cái mãn kinh hoa,
Tư nhân độc tiều tụy.
Tạm hiểu: mũ lọng của quan to đầy chốn kinh thành, riêng người ấy thì tiều tụy. Chữ tiều tụy ở đây vừa là dáng người tàn tạ, vừa là cảnh đời lận đận, thất thế. Câu thơ cho thấy từ này từ xưa đã gánh cả nỗi buồn chứ không chỉ cái gầy của thân thể.
Trong lời nói hằng ngày, từ này hay đi với nỗi buồn tình cảm, kiểu Chia tay xong, cậu ấy tiều tụy mất mấy tuần. Cảnh ấy được bàn kĩ hơn trong bài về những ngày buồn sau một mối tình tan vỡ.
Tiều tụy, hốc hác, xanh xao và phờ phạc khác nhau ra sao?
| Từ | Nhấn vào | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tiều tụy | Cả dáng vẻ sa sút, tàn tạ; dùng cho người và cảnh | Căn nhà cũ tiều tụy sau nhiều năm bỏ trống |
| Hốc hác | Gương mặt gầy tóp, má hóp, mắt trũng | Mặt hốc hác vì thức đêm ôn thi |
| Xanh xao | Da nhợt nhạt, thiếu sắc hồng | Đứa bé xanh xao sau trận sốt |
| Phờ phạc | Mệt rã rời, thường chỉ trong thời gian ngắn | Phờ phạc sau chuyến xe đêm |
| Tàn tạ | Đã qua thời đẹp, đang lụi đi | Nhan sắc tàn tạ, vườn hoa tàn tạ |
Phờ phạc ngủ một giấc là có thể hết; tiều tụy thì cần cả một quãng dài mới hồi lại được. Trái nghĩa với tiều tụy có hồng hào, tươi tắn, phương phi, rạng rỡ. Còn một từ dễ đặt cạnh là “tiêu điều”; từ này chỉ dùng cho cảnh vật, phố xá, làng mạc vắng vẻ buồn bã, không dùng để tả mặt người. Khen ai đó “dạo này trông tiều tụy quá” vì thế không phải lời khen, dù người nói chỉ định bảo bạn mình gầy đi.
Viết tiều tụy cho đúng chỗ, đúng người
Tiều tụy nghĩa là gì khi nói về một người?
Là người ấy trông gầy mòn, mệt mỏi, sa sút hẳn đi so với trước, thường do bệnh, lo nghĩ hay lao lực lâu ngày. Từ này nặng hơn “gầy” và luôn kèm ý thương cảm.
Viết “tiều tụy” hay “tiều tuỵ” mới đúng?
Cả hai đều đúng và là cùng một từ. “Tụy” là cách đặt dấu theo kiểu mới (dấu nằm dưới chữ u), “tuỵ” là kiểu cũ (dấu nằm dưới chữ y). Trong một văn bản chỉ nên dùng thống nhất một kiểu.
Tiều tụy tiếng Anh là gì?
Tả gương mặt, thân hình, tiếng Anh hay dùng haggard hoặc gaunt; tả nhà cửa, cảnh vật xơ xác thì dùng run-down hay shabby.
Đặt câu với từ tiều tụy thế nào cho tự nhiên?
Nên đặt từ sau một nguyên nhân rõ ràng: Ông ngoại tiều tụy đi nhiều từ ngày bà mất. Câu có lý do đi kèm giúp người đọc hiểu ngay đây là sự sa sút do hoàn cảnh, chứ không phải lời chê ngoại hình.