Không một bộ sử hay gia phả cổ nào chép rõ về bà; phải đến năm 1916, cuốn Giai nhân di mặc của Nguyễn Hữu Tiến mới kể lại cuộc đời bà cho người đọc chữ quốc ngữ. Hồ Xuân Hương là nữ sĩ sống vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX (được cho là 1772 – 1822), tác giả những bài thơ Nôm Đường luật nổi tiếng như Bánh trôi nước, Mời trầu, Tự tình, được Xuân Diệu gọi là “Bà chúa thơ Nôm”. Năm 2021, UNESCO vinh danh và cùng kỷ niệm 250 năm ngày sinh của bà; đến nay bà là người phụ nữ Việt Nam duy nhất được tổ chức này vinh danh như vậy.
Hồ Xuân Hương có thật không? Những lớp tư liệu còn lại

| Tên | Hồ Xuân Hương (胡春香); có thuyết cho tên thật là Hồ Phi Mai, Xuân Hương là tên tự |
| Hiệu | Cổ Nguyệt Đường (hai chữ Cổ 古 và Nguyệt 月 ghép lại thành chữ Hồ 胡) |
| Năm sinh – năm mất | Được cho là 1772 – 1822 (mốc UNESCO dùng khi kỷ niệm 250 năm ngày sinh, 200 năm ngày mất) |
| Quê quán | Quê gốc làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, trấn Nghệ An; sinh và sống chủ yếu ở Thăng Long |
| Thể loại | Thơ Nôm Đường luật (thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt), thơ chữ Hán |
| Tác phẩm tiêu biểu | Bánh trôi nước, Mời trầu, Tự tình (I, II, III), Đề đền Sầm Nghi Đống, Quả mít, Đánh cờ; tập Lưu hương ký |
| Danh xưng, vinh danh | Bà chúa thơ Nôm; UNESCO vinh danh năm 2021 (kỳ họp lần thứ 41 Đại hội đồng UNESCO) |
| Trong SGK hiện hành | Đề đền Sầm Nghi Đống, Mời trầu, Tự tình (bài 2) |
Câu hỏi bà có thật hay không xuất phát từ chỗ tư liệu về bà rất muộn và rất mỏng. Thơ thì được truyền tụng rộng rãi, nhưng người viết ra chúng lại gần như không để lại dấu vết trong sử sách chính thống. Xếp theo thời gian, các lớp tư liệu chính gồm:

- 1834: Quốc văn tùng ký của Nguyễn Văn San chép vài bài thơ ghi tên Xuân Hương, văn bản cổ nhất hiện biết có thơ bà.
- 1916: Giai nhân di mặc của Nguyễn Hữu Tiến kể tiểu sử và gom thơ bà, dù trộn lẫn nhiều giai thoại.
- 1930: Xuân Hương thi tập (Phúc Văn Đường) in khoảng 60 bài, trong đó lẫn cả thơ của người khác.
- 1964: Trần Thanh Mại công bố tập Lưu hương ký, có bài tựa của Tốn Phong viết năm 1814, cho thấy một Hồ Xuân Hương có giao du với các văn nhân đương thời.
Chính Lưu hương ký là bằng chứng mạnh nhất cho thấy có một nữ sĩ tên Hồ Xuân Hương sống ở Thăng Long đầu thế kỷ XIX. Còn việc mọi bài thơ Nôm truyền tụng đều do một người ấy viết thì đến nay giới nghiên cứu vẫn thận trọng.
Sống ở thời đại nào? Thăng Long những năm Tây Sơn – đầu Nguyễn
Nếu lấy mốc 1772 – 1822, Hồ Xuân Hương sống trọn những năm biến động nhất của xứ Đàng Ngoài: chúa Trịnh suy tàn, Tây Sơn ra Bắc, nhà Lê mất, rồi năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi lập ra nhà Nguyễn. Bà sống cùng thời với Nguyễn Du (1765 – 1820), Phạm Đình Hổ, Phạm Thái.
Tuổi thơ của bà được cho là êm đềm trong ngôi nhà ven hồ Tây, sau thành tên hiệu Cổ Nguyệt Đường. Học giả John Balaban ghi bà sinh ở phường Khán Xuân, gần khu Bách Thảo Hà Nội ngày nay. Chính đời sống kinh kỳ ấy, nơi chữ nghĩa nhà nho, hội hè dân gian và cảnh chợ búa trộn vào nhau, đã nuôi dưỡng thứ ngôn ngữ thơ vừa bác học vừa dân dã của bà.
Con ông Hồ Phi Diễn hay Hồ Sĩ Danh?
Ngay đến thân phụ của bà, các học giả cũng chưa thống nhất. Cả hai thuyết đều cho rằng bà thuộc dòng họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Nghệ An, một dòng họ khoa bảng nổi tiếng:
| Thuyết | Thân phụ | Nguồn |
|---|---|---|
| Thứ nhất | Sinh đồ Hồ Phi Diễn (1704 – 1786), người Quỳnh Đôi | Giai nhân di mặc (1916); nhiều bài báo về lễ kỷ niệm năm 2022 cũng theo thuyết này |
| Thứ hai | Hồ Sĩ Danh (1706 – 1783), anh cùng cha khác mẹ của Hồ Sĩ Đống | Học giả Trần Thanh Mại |
Mẹ bà được ghi là bà vợ lẽ họ Hà, người Bắc Ninh. Cha mất khi bà còn nhỏ; theo những gì được kể lại, hai mẹ con sống ở Thăng Long và bà vẫn được học hành, giỏi chữ, giỏi thơ.
Hai lần làm lẽ: Tổng Cóc và ông phủ Vĩnh Tường
Đời tình duyên của Hồ Xuân Hương phần lớn được biết qua giai thoại và gia phả các dòng họ liên quan. Theo đó, bà hai lần lấy chồng và cả hai lần đều làm lẽ.
Người chồng thứ nhất là Nguyễn Bình Kình, chánh tổng ở làng Gáp, xã Tứ Xã (nay thuộc huyện Lâm Thao, Phú Thọ), thường gọi là Tổng Cóc. Ông chuộng văn thơ, từng dựng riêng một thủy tạ cho bà ở. Cuộc sống chung không bền; bà bỏ đi khi đang có mang, đứa trẻ sinh ra không sống được. Bài Khóc Tổng Cóc được truyền là của bà.
Người chồng thứ hai là tú tài Phạm Viết Ngạn, làm tri phủ Vĩnh Tường, quê Xuân Trường (Sơn Nam Hạ). Cuộc hôn nhân chỉ được 27 tháng thì ông phủ mất; bà để lại bài Khóc ông phủ Vĩnh Tường. Gia phả họ Phạm ghi bà sinh cho ông một con trai tên Phạm Viết Thiệu. Về quãng đời sau đó, có nhiều chuyện kể khác nhau nhưng chưa đủ căn cứ để tin.
Hai bài Tự tình và Làm lẽ thường được đọc như tiếng nói của chính người phụ nữ ấy về phận lẽ mọn và nỗi cô đơn; xem bài Tự tình (bài 2): tác giả – tác phẩm.
Thơ Nôm truyền tụng và Lưu hương ký: hai giọng thơ khác nhau
Phần thơ làm nên tên tuổi Hồ Xuân Hương là khoảng vài chục bài thơ Nôm Đường luật truyền tụng: Bánh trôi nước, Mời trầu, Quả mít, Đánh cờ, Đánh đu, Thiếu nữ ngủ ngày, Chùa Quán Sứ, Đèo Ba Dội… Những bài thơ ấy dùng chữ Nôm thuần Việt, thanh mà tục, tục mà thanh, đầy ẩn ý, vừa đùa cợt vừa xót xa cho thân phận phụ nữ. Bài thơ ngắn nhất cũng là bài quen thuộc nhất:
Thân em vừa trắng lại vừa tròn
Bảy nổi ba chìm với nước non
Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn
Mà em vẫn giữ tấm lòng son.
Lưu hương ký thì khác hẳn: tập gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ chữ Nôm (có tài liệu ghi 26), giọng hiền hòa, nhiều từ Hán Việt, chủ yếu là thơ tâm sự và thơ xướng họa với bạn văn. Chính khoảng cách ấy khiến nhiều nhà nghiên cứu xem phần thơ Nôm truyền tụng là trọng tâm, còn Lưu hương ký là tài liệu tham khảo. Năm bài thơ chữ Hán khác được cho là của bà (như Độ hoa phong, Hải ốc trù) được Trần Văn Giáp giới thiệu năm 1962 và Hoàng Xuân Hãn dịch nghĩa năm 1984.
Lối dùng chữ táo bạo, cách chơi chữ nước đôi và những nét đặc sắc khác được phân tích ở bài phong cách sáng tác của Hồ Xuân Hương; các bài thơ tiêu biểu có ở trang thơ Hồ Xuân Hương.
Từ Bà chúa thơ Nôm đến danh nhân văn hóa thế giới
Danh xưng “Bà chúa thơ Nôm” do nhà thơ Xuân Diệu đặt, trong cuốn sách ông viết về bà; vì sao danh xưng ấy được dùng rộng rãi đến nay, xem bài Hồ Xuân Hương được mệnh danh là gì.
Ngày 23/11/2021, Đại hội đồng UNESCO khóa 41 thông qua nghị quyết vinh danh và tham gia kỷ niệm 250 năm năm sinh của Hồ Xuân Hương (1772 – 2022). Ngày 3/12/2022, lễ kỷ niệm 250 năm năm sinh và 200 năm năm mất của bà được tổ chức tại thành phố Vinh, Nghệ An. Trong sáu danh nhân Việt Nam được UNESCO vinh danh đến thời điểm ấy (Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh, Nguyễn Du, Chu Văn An, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Đình Chiểu), bà là người phụ nữ duy nhất.
Thơ Hồ Xuân Hương trong chương trình Ngữ văn mới và cũ
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Đề đền Sầm Nghi Đống | Ngữ văn 8 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 10 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Mời trầu | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 2 – Bài 7 | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Phân tích |
| Tự tình (bài 2) | Ngữ văn 9 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 3; Ngữ văn 10 Cánh diều, tập 1 – Bài 2 | Soạn bài (KNTT) · Soạn bài (Cánh diều) · Mở bài · Kết bài |
| Bánh trôi nước | Ngữ văn 7 chương trình cũ; Ngữ văn 9 Chân trời sáng tạo có văn bản nghị luận về bài thơ | Tác giả – tác phẩm · Soạn bài Tính đa nghĩa trong bài thơ Bánh trôi nước |
Hỏi nhanh về Hồ Xuân Hương
Hồ Xuân Hương quê ở đâu?
Quê gốc của bà là làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, quê của dòng họ Hồ. Bà sinh ra và sống phần lớn cuộc đời ở Thăng Long, quanh vùng hồ Tây.
Hồ Xuân Hương có mấy đời chồng?
Theo giai thoại và gia phả được các nhà nghiên cứu dẫn, bà hai lần làm lẽ: lần đầu với Tổng Cóc Nguyễn Bình Kình, lần sau với ông phủ Vĩnh Tường Phạm Viết Ngạn. Các chuyện kể về những cuộc tình khác chưa có căn cứ chắc chắn.
Hồ Xuân Hương để lại bao nhiêu bài thơ?
Không có con số chính xác. Phần thơ Nôm truyền tụng gồm vài chục bài, trong đó có bài còn tranh cãi về tác giả; Lưu hương ký có 24 bài chữ Hán và 28 bài chữ Nôm (có tài liệu ghi 26). Con số “26 bài Nôm, 24 bài chữ Hán” hay được nhắc tới thật ra chỉ là số liệu của riêng Lưu hương ký theo một cách đếm, không phải toàn bộ thơ bà.
Mộ Hồ Xuân Hương ở đâu?
Đến nay chưa xác định được. Có ý kiến cho rằng mộ bà nằm ở khu nghĩa địa ven hồ Tây, về sau chìm xuống lòng hồ; năm 2003, một nhóm hậu duệ dòng họ Hồ đã đi tìm nhưng không có kết quả.