Thương là một chữ nhiều nghĩa. Trong toán học, thương là kết quả của phép chia: 12 : 3 = 4 thì 4 là thương. Trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, thương là có tình cảm gắn bó, quan tâm chăm sóc (mẹ thương con), hoặc là thấy xót xa trước cảnh ngộ của ai đó. Ở miền Trung và miền Nam, “thương” còn được dùng thay cho chữ yêu.
| Nghĩa trong toán | Kết quả của phép chia (danh từ) |
| Nghĩa tình cảm | Yêu quý, gắn bó; xót xa, ái ngại; trong phương ngữ còn có nghĩa là yêu (động từ) |
| Nghĩa khác | Cây thương, một loại binh khí cán dài mũi nhọn (danh từ) |
| Gốc Hán Việt hay gặp | 商 (buôn bán, bàn bạc; cũng là thương số), 傷 (vết thương, đau xót) |

Thương trong toán học: tên gọi kết quả của phép chia
Nhiều bạn nhỏ hỏi “thương là phép tính gì”. Thật ra thương không phải tên một phép tính. Đó là tên của kết quả mà phép chia cho ra, giống như tổng là kết quả của phép cộng.
Trong phép chia 12 : 3 = 4:
- 12 là số bị chia;
- 3 là số chia;
- 4 là thương.
Sách Toán lớp 2 còn lưu ý thêm: cả biểu thức 12 : 3 cũng được gọi là thương. Vì vậy đề bài “Tính thương của 12 và 3” chỉ có nghĩa là làm phép chia 12 cho 3.
Với phép chia có dư, ví dụ 14 : 3 = 4 (dư 2), thì 4 là thương và 2 là số dư. Muốn thử lại, lấy thương nhân với số chia rồi cộng số dư: 4 × 3 + 2 = 14, đúng bằng số bị chia.
| Phép tính | Tên các thành phần | Tên kết quả |
|---|---|---|
| Phép cộng: 8 + 2 = 10 | số hạng, số hạng | tổng |
| Phép trừ: 8 − 2 = 6 | số bị trừ, số trừ | hiệu |
| Phép nhân: 8 × 2 = 16 | thừa số, thừa số | tích |
| Phép chia: 8 : 2 = 4 | số bị chia, số chia | thương |
Cũng theo lối gọi tên kết quả ấy, phép cộng cho ra tổng, phép nhân cho ra tích, còn hiệu của phép trừ là phần còn lại khi lấy số bị trừ bớt đi số trừ.
Thương là yêu, thương là xót
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) ghi động từ thương có mấy nét nghĩa gần nhau mà không trùng:
- Có tình cảm gắn bó, quan tâm săn sóc chu đáo: mẹ thương con, ông bà thương cháu. Đồng nghĩa với yêu thương.
- Trong phương ngữ, nghĩa là yêu: ở miền Trung, miền Nam, câu “anh thương em” chính là lời tỏ tình. Từ điển dẫn một câu ca dao mang giọng miền Trung, có cụm “nỏ biết mần răng” (chẳng biết làm sao), để minh họa.
- Thấy đau đớn, xót xa trước cảnh ngộ không may của ai: động lòng thương, thương người như thể thương thân. Đồng nghĩa với thương xót, xót thương.
Nghĩa thứ hai làm nên một khác biệt thú vị giữa các vùng. Người miền Bắc nghe “thương” thường nghĩ tới tình thân, lòng trắc ẩn; người miền Nam nghe “thương” có khi hiểu ngay là tình yêu đôi lứa. Còn tình yêu theo nghĩa rộng nhất thì đã có bài tình yêu được hiểu ra sao bàn riêng.
Chữ “xót” trong thương xót viết với x; ai hay phân vân có thể xem bài thương xót viết x hay s.
Khi nét nghĩa này mở rộng thành tấm lòng dành cho mọi người, ta có tình yêu thương và lòng nhân ái, đề tài quen thuộc của văn nghị luận.
商, 傷 và mấy chữ thương gốc Hán
Âm “thương” trong tiếng Hán Việt ứng với nhiều chữ Hán khác nhau. Hai chữ gặp nhiều nhất:
- 商 nghĩa là buôn bán và bàn bạc: thương mại, thương nhân, thương hiệu, thương lượng. Từ điển Hán Việt (Trần Văn Chánh) còn ghi một nghĩa của chữ này là số thương trong phép chia. Như vậy chữ “thương” của môn Toán chính là chữ 商, cùng một chữ với thương mại.
- 傷 nghĩa là vết đau, làm hại, đau xót: bị thương, thương tích, tổn thương, bi thương, cảm thương.
Ngoài ra, cây thương (một thứ binh khí cán dài như ngọn giáo) ứng với chữ 槍. Gặp một từ có tiếng “thương”, cứ đặt vào ngữ cảnh là biết đang nói về buôn bán, vết thương hay tình cảm.
Bảng các nghĩa của thương và từ gần nghĩa
| Nghĩa | Ví dụ | Từ gần nghĩa | Từ trái nghĩa |
|---|---|---|---|
| Kết quả phép chia | Thương của 15 và 5 là 3 | thương số | (đối với tích của phép nhân) |
| Yêu quý, gắn bó | Bà thương cháu | yêu, quý, yêu thương | ghét, ghét bỏ |
| Yêu (phương ngữ) | Anh thương em thiệt lòng | yêu, mến | hết thương, chán |
| Xót xa, ái ngại | Thương chú mèo đi lạc | thương xót, thương cảm, tội nghiệp | thờ ơ, dửng dưng |
| Buôn bán (商) | thương mại, thương nhân | buôn bán | |
| Vết thương (傷) | bị thương, thương tích | tổn thương |
Chữ thương trong Truyện Kiều và bài Thương vợ
Thơ văn cũ dùng chữ thương rất nhiều, phần lớn theo nghĩa xót xa. Trong Truyện Kiều, lúc ở lầu xanh, Kiều tự thương thân mình:
Khi tỉnh rượu, lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Ba chữ “mình” trong một câu, và chữ “thương” đứng giữa: người thương và người được thương là một. Câu thơ này cũng được Từ điển Hoàng Phê chọn làm ví dụ cho nghĩa “xót xa”.
Đến Trần Tế Xương, chữ thương gói cả hai nghĩa yêu và xót. Bài Thương vợ của Tú Xương kể chuyện bà Tú quanh năm buôn bán ở mom sông, nuôi cả con lẫn chồng. Nhà thơ thương vợ vì quý tấm lòng của bà, và cũng vì xót cho những nhọc nhằn bà phải gánh, trong khi ông tự nhận mình là người chồng chẳng giúp được gì.
Thương: mấy điều hay hỏi khi làm bài
Thương là phép tính gì?
Thương không phải phép tính mà là kết quả của phép chia. Trong 20 : 4 = 5, số 5 là thương; 20 là số bị chia, 4 là số chia.
Muốn tìm số bị chia khi biết thương thì làm sao?
Lấy thương nhân với số chia. Ví dụ: x : 3 = 6 thì x = 6 × 3 = 18. Nếu có số dư thì cộng thêm số dư.
Thương trong tiếng miền Nam nghĩa là gì?
Thường mang nghĩa là yêu. “Em thương anh” ở miền Nam là lời bày tỏ tình cảm đôi lứa, tương đương “em yêu anh” ở miền Bắc.
Thương và yêu khác nhau thế nào?
Trong nhiều trường hợp hai từ thay được cho nhau. Thương thường nghiêng về sự quan tâm, che chở và có thể kèm nỗi xót xa; yêu nghiêng về sự say mến, nhất là trong tình cảm đôi lứa.