Thiên vị là nghiêng về một phía khi đối xử, đánh giá: thương, nâng đỡ hay bênh một người nhiều hơn người khác mà không dựa trên lẽ phải. Tra “thiên vị nghĩa là gì” trong từ điển, ta gặp các chữ “không công bằng”, “không vô tư”. Một ông bố cho đứa con cưng phần hơn, một trọng tài bắt còi lệch về đội nhà, đều là thiên vị.
| Nghĩa ngắn | Đối xử nghiêng về một phía, không công bằng, không vô tư |
| Gốc từ | Hán Việt 偏爲: thiên (lệch, nghiêng) + vị (vì, vì ai) |
| Loại từ | Động từ; cũng dùng như tính từ (“thái độ thiên vị”) |
| Đồng nghĩa | Tây vị, thiên tư, thiên vị ra mặt |
| Trái nghĩa | Công bằng, vô tư, chí công vô tư |

Thiên vị: cán cân bị đè một bên
Hình dung một chiếc cân đòn. Đặt hai thứ ngang nhau lên hai đĩa, người cầm cân lại khẽ ấn ngón tay xuống một bên. Chiếc cân vẫn chạy, chỉ có điều nó không còn nói thật. Thiên vị là ngón tay ấy.
Các từ điển tiếng Việt xếp thiên vị vào loại động từ, nghĩa là cách đối xử nghiêng về một phía, thiếu công bằng. Đi kèm là hai ví dụ quen tai: đối xử công bằng, không thiên vị ai; trọng tài thiên vị đội chủ nhà. Từ này cũng hay đứng sau danh từ như một tính từ: cái nhìn thiên vị, lời khen thiên vị.
Điều đáng để ý: thiên vị không cần đến ác ý. Người mẹ thiên vị con út thường chỉ thương con út hơn một chút. Cái sai nằm ở chỗ tình cảm riêng đã lấn sang việc lẽ ra phải chia đều, chấm đều, phân xử đều.
偏爲: lệch về phía người mình vì
Chữ thiên (偏) có nghĩa gốc là lệch, nghiêng. Thiều Chửu giảng thêm rằng cái gì không đúng với lẽ trung bình đều gọi là thiên. Cùng họ có thiên lệch, thiên kiến, thiên ái (yêu riêng một bên), thiên về.
Chữ vị ở đây là 爲. Chữ này đọc “vi” thì nghĩa là làm (như hành vi), đọc “vị” thì nghĩa là vì, giúp cho (như vị kỉ: vì mình). Ghép lại, thiên vị là lệch về phía người mà mình vì. Nhiều người tưởng chữ vị này là “vị trí” hay “mùi vị”; nhìn chữ Hán thì thấy không phải.
Biết chữ rồi sẽ thấy vì sao thiên vị khác chữ chiếu cố của người trên. Chiếu cố là đoái đến, quan tâm, phần nhiều mang nghĩa tốt; thiên vị luôn kéo theo một người khác bị thiệt.
Bên cạnh tây vị, thiên kiến, công bằng
| Từ | Ý chính | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thiên vị | Đối xử lệch về một phía trong việc chia phần, chấm điểm, phân xử | Cô giáo bị phụ huynh trách là thiên vị lớp trưởng |
| Tây vị | Đồng nghĩa, sắc thái cũ, gặp nhiều trong văn viết xưa | Quan xử kiện tây vị nhà giàu |
| Thiên kiến | Cách nhìn lệch có sẵn trong đầu; nằm ở suy nghĩ, chưa chắc thành việc làm | Thiên kiến cho rằng con gái học kém môn Toán |
| Ưu tiên | Được xếp trước theo một tiêu chí rõ ràng, công khai | Ưu tiên người già lên xe trước |
| Công bằng, vô tư | Trái nghĩa: theo đúng lẽ phải, không riêng ai | Chấm thi công bằng, xử vô tư |
Cặp dễ lẫn nhất là thiên vị và ưu tiên. Cho người khuyết tật vào cổng trước là ưu tiên, vì ai cũng biết lý do và lý do ấy hợp lẽ. Cho con nhà quen vào trước mà không nói lý do thì đã thành thiên vị. Ranh giới nằm ở tiêu chí: có công khai, có áp cho mọi người như nhau hay không. Thước đo ấy cũng là điều mà bài thế nào mới gọi là công bằng bàn kĩ hơn.
Người dì ghẻ trong truyện Tấm Cám
Ít có câu chuyện nào cho trẻ con thấy thiên vị rõ như truyện cổ tích quen thuộc này. Cùng đi bắt tép, Tấm chăm chỉ được đầy giỏ, Cám mải chơi nên lừa chị để lấy giỏ tép. Đến ngày hội, dì ghẻ dắt Cám đi xem, còn trộn thóc lẫn gạo bắt Tấm ở nhà nhặt cho xong. Hai đứa con gái cùng một nhà, một đứa được thương, một đứa bị đày. Đọc lại câu chuyện cô Tấm hiền lành, học trò sẽ thấy người kể không cần dùng chữ thiên vị lần nào mà ai cũng hiểu.
Trong đời thường, chữ này có mặt ở bữa cơm (“Mẹ thiên vị em quá, lúc nào cũng gắp cho nó trước”), ở lớp học, ở sân bóng và ở công sở, nơi sếp giao việc dễ cho người thân cận còn việc khó cho người ít nói. Câu nào cũng có hai nhân vật: người được nâng và người bị bỏ lại. Thiếu nhân vật thứ hai thì chưa gọi là thiên vị.
Nói về thiên vị cho đúng chỗ
Thiên vị tiếng Anh là gì?
Hành vi đối xử lệch thường dịch là favoritism (Anh Anh viết favouritism); tính từ là biased hoặc partial. Chữ bias rộng hơn, chỉ cả thiên kiến trong suy nghĩ, còn show favoritism to someone là thiên vị ai đó.
Thiên vị và tây vị có khác nhau không?
Về nghĩa thì gần như không. Tây vị là cách nói cũ hơn, nay ít dùng trong lời nói hằng ngày nhưng vẫn gặp trong sách vở, truyện xưa.
Bố mẹ thiên vị con là như thế nào?
Là khi bố mẹ thương, chiều, bênh hoặc khen một đứa con rõ rệt hơn những đứa còn lại mà không vì lý do chính đáng. Có khi chỉ là gắp thức ăn trước hay mua quà đẹp hơn, có khi là chuyện chia tài sản. Đứa con bị lép vế thường nhớ rất lâu.
Chơi thân với một bạn trong lớp có phải là thiên vị không?
Không. Quý ai hơn là chuyện tình cảm riêng, rất bình thường. Chỉ khi mình có quyền chia phần, chấm điểm, chọn người, rồi để tình cảm đó làm lệch kết quả, ta mới gọi là thiên vị.