Thích là thấy bằng lòng, dễ chịu khi gặp một người, một vật hay khi làm một việc, nên lúc nào có dịp lại muốn gặp, muốn làm nữa. Đó là nghĩa người ta tìm nhiều nhất khi gõ “thích là gì” hay “thích nghĩa là gì”. Nhưng cùng một âm thích còn có nghĩa xăm chữ lên da, có chữ Thích trong pháp danh nhà sư và chữ thích trong thích hợp, thân thích.
| Nghĩa thường gặp | Ưa, có cảm tình, thấy dễ chịu với ai hoặc với việc gì |
| Loại từ | Động từ; “sở thích”, “ý thích” là danh từ ghép từ nó |
| Nghĩa ít gặp | Dùng mũi nhọn châm chữ lên da (thích chữ); thúc nhẹ khuỷu tay vào người khác |
| Trái nghĩa | Ghét, chán, ngán |

Thích là ưa hay là muốn?
Cả hai, tùy thứ đứng sau nó. Khi theo sau là một danh từ, thích nghiêng về ưa: em thích màu xanh, bà thích hoa sen. Khi theo sau là một động từ, thích mang thêm sắc thái muốn làm việc đó mỗi khi có dịp: bố thích câu cá cuối tuần, nó thích ngủ nướng.
Mục từ thích trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học nhấn vào hai vế: thấy vừa lòng khi gặp, và vì vừa lòng nên lần nào có dịp cũng muốn gặp lại. Vế sau là chỗ phân biệt thích với một lần thấy hay. Ăn một bát phở ngon chưa chắc đã thích phở; tuần nào cũng ghé quán quen thì mới đúng là thích.
Thích còn đứng một mình làm câu trả lời trọn vẹn. Hỏi “Đi xem phim không?”, đáp “Thích!” là đủ hiểu. Đặt trước nó vài chữ, sắc thái đổi hẳn: thích thì làm (tùy ý mình, không cần lý do), thích quá đi mất (mừng rỡ), không thích thì thôi (hơi dỗi). Họ hàng của nó cũng đông: ưa thích, yêu thích, ham thích, thích thú, thích chí, thỏa thích. Riêng chuyện thích thành nếp, thành thứ riêng của từng người thì có bài giải nghĩa chữ sở thích.
Thích chữ vào da: nghĩa cũ ít người để ý
Đọc truyện xưa hay sách sử, có khi gặp câu “thích chữ vào mặt” hoặc “thích chữ vào tay”. Ở đây thích là dùng vật có mũi nhọn châm lên da cho thành chữ, thành hình, rồi bôi mực cho nổi lên; nói theo bây giờ là xăm. Từ điển còn ghi một nét nữa: thúc nhẹ vào người khác, như thích khuỷu tay vào sườn bạn, gần với huých.
Chữ thích này gặp chữ Hán 刺, nghĩa là đâm, chọc, có trong kích thích, thích khách, hành thích. Một học sinh đọc “thích khách” lần đầu dễ tưởng là khách dễ mến; thật ra đó là kẻ cầm dao đi ám sát.
Thích, mến, thương, yêu xếp theo độ đậm
| Từ | Mức độ và sắc thái | Ví dụ |
|---|---|---|
| Mến | Có cảm tình, quý; nhẹ, lịch sự, hay dùng khi mới quen | Cả lớp rất mến cô chủ nhiệm mới |
| Thích | Ưa, thấy dễ chịu, muốn gần; dùng được cho người, vật, việc | Mình thích cách cậu ấy cười |
| Thương | Gắn bó, xót xa, muốn che chở; nghiêng về tình nghĩa | Thương mẹ dậy sớm đi chợ |
| Yêu | Gắn bó sâu, muốn ở bên lâu dài; với người khác giới là tình yêu đôi lứa | Anh yêu em |
| Ghét | Trái nghĩa trực tiếp với thích | Em ghét ăn hành |
Bảng này chỉ là thứ tự thường gặp, không phải thước đo. Người miền Nam hay nói “thương” ở chỗ người miền Bắc nói “yêu”, nên một câu “em thương anh” có khi nặng hơn cả “em yêu anh”. Còn ở tuổi học trò, câu “tớ thích cậu” thường là lời tỏ tình đầu tiên: chưa dám dùng chữ yêu, nhưng đã khác hẳn chữ mến. Cảm giác ấy giới trẻ hay gọi bằng một từ mượn, xem bài crush nghĩa là người mình thầm để ý.
Thích Ca, thích hợp, thân thích: bốn chữ Hán cùng một âm
Ngoài nghĩa ưa thích thuần Việt, âm Hán Việt thích ứng với ít nhất bốn chữ khác nhau. Gặp từ ghép lạ, đoán chữ gốc theo bảng dưới đây sẽ đỡ hiểu sai.
- 釋: chữ trong Thích Ca, tên dòng họ của Đức Phật. Nhà sư Việt Nam lấy Thích làm họ đạo khi xuất gia để tỏ mình là đệ tử Phật, nên mới có các pháp danh bắt đầu bằng Thích. Chữ này còn nghĩa là cởi ra, giải ra, có trong giải thích, chú thích, phóng thích.
- 適: vừa, hợp, có trong thích hợp, thích đáng, thích ứng, tương thích.
- 戚: họ hàng, có trong thân thích (“không họ hàng thân thích”).
- 刺: đâm, chọc, như đã nói ở mục trên.
Thêm một chữ ít ai ngờ: cây thích. Chi thực vật Acer, có chiếc lá in trên quốc kỳ Canada, trong tiếng Việt vừa gọi là chi phong vừa gọi là chi thích. Muốn ôn lại cách nhận diện yếu tố Hán Việt như vậy, có thể đọc bài dấu hiệu nhận biết yếu tố Hán Việt.
Thử đặt bốn chữ vào một câu: Sư thầy giải thích rằng chẳng có ai là người thân thích, chỉ có việc làm cho thích hợp với lòng mình. Cùng một âm, ba nghĩa, không chữ nào là ưa.
Thích ai đó, thích một món đồ và vài chữ dễ lẫn
Thích và yêu khác nhau thế nào?
Thích là thấy dễ chịu, muốn gần; yêu là gắn bó sâu và muốn ở bên lâu dài, chấp nhận cả cái chưa hay của người kia. Người ta có thể thích nhiều người cùng lúc, nhưng chữ yêu thường dành cho một người. Thích có thể là bước đầu của yêu, không phải lúc nào cũng đi tiếp.
Thích tiếng Anh là gì?
Thường dịch là like; thích nhiều hơn là love hoặc be fond of, như I’m fond of reading (mình rất thích đọc sách). Nút “thích” trên mạng xã hội cũng là bản dịch của nút Like.
Vì sao nhà sư mang họ Thích?
Thích là chữ đầu của Thích Ca, tên dòng họ Đức Phật. Khi xuất gia, tăng ni Việt Nam lấy chữ này làm họ đạo, đứng trước pháp danh, để tỏ mình là con nhà Phật. Chữ Thích ấy không liên quan gì đến nghĩa ưa thích.
Thích thú và thích chí khác nhau ra sao?
Thích thú là có hứng, thấy vui khi làm hay xem điều gì: bé thích thú ngắm đàn cá. Thích chí là hả hê vì được như ý, thường bật ra thành tiếng cười: nó vỗ đùi thích chí khi đoán trúng. Thích chí hợp văn kể chuyện hơn văn trang trọng.
Muốn đổi chữ thích sang ưa, khoái, ham thích hay tìm chữ nói điều ngược lại, có bảng gọn ở đồng nghĩa, trái nghĩa với thích.