Thi vị là cái hay, cái đẹp có sức gợi cảm như thơ, ở trong một câu văn hoặc ở chính sự vật, khung cảnh ngoài đời. Nói “phong cảnh đầy thi vị” là khen cảnh ấy nên thơ, khiến người ta muốn ngắm lâu và muốn viết thành lời. Từ này hay bị gõ nhầm với thú vị, còn thi vị hóa lại là lời chê nhẹ: tô cho đẹp hơn sự thật.
| Nghĩa ngắn | Vẻ nên thơ, cái hay đẹp gợi cảm của thơ văn hoặc của cảnh, của chuyện đời |
| Gốc từ | Hán Việt 詩味: thi (thơ) + vị (mùi vị, cái thú) |
| Loại từ | Danh từ (“đầy thi vị”); trong lời nói thường dùng như tính từ (“rất thi vị”) |
| Sắc thái | Văn chương, khen; “thi vị hóa” mang ý phê phán |

Thi vị, nếm thơ như nếm vị
Chữ thi (詩) là thơ, như trong thi sĩ, thi ca, Đường thi. Chữ vị (味) nghĩa gốc là mùi vị nếm được bằng lưỡi: chua, cay, mặn, ngọt, đắng. Từ cái nếm bằng lưỡi, chữ vị trượt sang cái “nếm” bằng lòng, tức điều khiến người ta thấy hay, thấy có duyên; tiếng Việt giữ nét nghĩa ấy trong thú vị, hương vị, phong vị, ý vị.
Thi vị vì thế là “vị của thơ”. Một từ điển Hán Việt giảng gọn là niềm thích thú của thơ. Cách ghép này cho thấy người xưa coi thơ như món ăn tinh thần, có cái để nhấm nháp, chứ không chỉ để đọc qua.
Lúc là danh từ, lúc như tính từ
Từ điển tiếng Việt xếp thi vị là danh từ, với hai nét nghĩa:
- Cái hay, cái gợi cảm trong thơ văn. Ví dụ: Câu ca dao mộc mạc mà đọc kĩ vẫn thấy thi vị. Nét này được ghi là ít dùng.
- Vẻ nên thơ của sự vật, khung cảnh, câu chuyện. Ví dụ: Buổi chiều mưa phùn ở phố cổ có một vẻ thi vị rất riêng.
Trong lời nói thường ngày, người ta hay đặt thi vị ngay sau danh từ như một tính từ: “một góc quán thi vị”, “chuyến đi thi vị”. Cách dùng ấy đã quen tai, chỉ nên nhớ rằng nó mang màu văn chương. Nói về một bữa cơm hay một cuộc họp mà khen “thi vị” thì phải có lí do, nếu không sẽ nghe điệu.
Từ phái sinh đáng chú ý là thi vị hóa: làm cho một việc, một cảnh trở nên nên thơ hơn thực tế. Ai đó viết về cảnh nghèo mà chỉ thấy khói bếp lãng đãng, mái tranh xinh xắn, quên đi cái đói và cái rét, thì đó là thi vị hóa cái nghèo.
Ánh trăng thi vị và trang văn Nam Cao
Trong văn học Việt Nam, chuyện thi vị hóa từng được bàn rất gắt. Truyện ngắn Trăng sáng của Nam Cao kể về một nhà văn nghèo mê ánh trăng, mê những trang viết đẹp, rồi nhận ra sau cái đẹp ấy là những kiếp người khổ sở mà mình đang ngoảnh mặt đi. Hình ảnh “ánh trăng lừa dối” trong truyện thành cách gọi thứ nghệ thuật chỉ biết tô vẽ; đọc thêm ở bài phân tích quan niệm nghệ thuật của Nam Cao qua hình ảnh ánh trăng.
Điều thú vị là Nam Cao không chê cái đẹp. Ông chê việc dùng cái đẹp để che mắt. Phân biệt hai điều này giúp ta dùng chữ thi vị cho đúng: một cảnh đẹp thật thì cứ khen là thi vị, còn tô cho đẹp một điều vốn đau đớn thì mới đáng gọi là thi vị hóa. Lối nhìn đời qua lớp sương mơ mộng cũng là đặc điểm của văn lãng mạn, chi tiết hơn có ở bài chữ lãng mạn từ gốc Hán đến văn chương.
Ngoài trang sách, chữ này hay gặp trong lời giới thiệu du lịch, quán cà phê, sách ảnh: “Đà Lạt thi vị”, “một chiều thi vị bên hồ”. Dùng nhiều quá, nó dễ thành nhãn dán. Câu văn có thi vị thật thường không cần gọi tên chữ thi vị.
Thi vị, thú vị, nên thơ, thơ mộng
| Từ | Nghĩa chính | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thi vị | Vẻ đẹp gợi cảm như thơ; màu văn chương | Bến đò chiều có nét thi vị |
| Thú vị | Gây hứng thú, làm người ta thích thú | Một trò chơi thú vị |
| Nên thơ | Đẹp như trong thơ; gần nghĩa nhất với thi vị, giọng thuần Việt hơn | Con đường nên thơ |
| Thơ mộng | Đẹp, gợi mơ màng, hơi xa thực tế | Tuổi học trò thơ mộng |
| Khô khan, tẻ nhạt | Trái nghĩa: không có gì gợi cảm, gợi hứng | Một bản báo cáo khô khan |
Thú vị và thi vị chỉ khác một chữ nhưng không thay nhau được. Một bài toán hay là bài toán thú vị; nó hiếm khi thi vị. Một bến sông vắng lúc chiều xuống thì thi vị, còn có thú vị hay không lại tùy người đứng đó.
Khi cần từ thay cho thú vị trong bài văn, có thể tham khảo những từ cùng nghĩa với thú vị, nơi các từ được so theo sắc thái.
Dùng chữ thi vị sao cho trúng
Thi vị hóa là gì?
Là làm cho sự việc, cảnh vật hay con người trở nên đẹp và nên thơ hơn thực tế. Từ này thường mang ý phê phán, nhất là khi nói về văn chương hay truyền thông tô hồng những điều khắc nghiệt.
Thi vị hay thú vị mới đúng?
Cả hai đều đúng chính tả nhưng khác nghĩa. Muốn khen điều gì hấp dẫn, gây hứng thú thì dùng thú vị; muốn khen vẻ đẹp nên thơ thì dùng thi vị.
“Đầy thi vị” nghĩa là sao?
Là có nhiều nét nên thơ, gợi cảm xúc. “Một buổi sớm đầy thi vị” là buổi sớm khiến người ta thấy lòng nhẹ đi, muốn ngắm, muốn ghi lại.
Thi vị tiếng Anh là gì?
Thường dịch là poetic (tính từ) hoặc poetic charm, poetic quality (danh từ). Thi vị hóa có thể dịch là romanticize.