Thất phu là từ Hán Việt (匹夫) chỉ người đàn ông thường dân, không chức tước, không danh vọng. Theo thời gian, nghĩa ấy trượt xuống thành “kẻ tầm thường, hèn kém”, và từ này hay xuất hiện trong lời mắng. Cùng một chữ mà sắc thái đổi theo câu: trong “thất phu hữu trách” nó trung tính, còn tiếng quát “đồ thất phu!” thì là lời coi khinh.
| Nghĩa ngắn | Người đàn ông thường dân; kẻ tầm thường (ý khinh) |
| Gốc từ | Hán Việt 匹夫: thất (đơn lẻ, thường) + phu (người đàn ông) |
| Loại từ | Danh từ, từ cũ |
| Sắc thái | Trung tính trong thành ngữ cổ, miệt thị khi dùng để gọi một người |

Thất phu, từ người dân thường đến tiếng mắng
Từ điển tiếng Việt xếp thất phu vào nhóm từ cũ và giảng là người đàn ông dân thường, dốt nát, hèn kém, kèm lời chú rằng đây là cách nhìn mang ý coi khinh theo quan niệm xưa. Đặt cạnh nghĩa trong các sách chữ Hán thì thấy rõ hai tầng:
- Tầng gốc, trung tính: một người đàn ông bình thường, không quan tước. Văn cổ Trung Hoa hay đặt thất phu đối với vua chúa, công hầu để nói về dân thường.
- Tầng sau, miệt thị: kẻ tầm thường, thiển cận, đáng khinh. Ở nghĩa này, từ được dùng như tiếng chửi, nhất là trong truyện chương hồi, khi tướng hai bên mắng nhau trước trận.
Bây giờ ít ai dùng thất phu trong lời nói thật. Từ này sống chủ yếu trong sách cổ, phim cổ trang, truyện kiếm hiệp và trong vài câu thành ngữ. Ví dụ câu tự đặt: Gã tướng giặc vung đao quát: “Tên thất phu kia, mau xuống ngựa chịu trói!”
Chữ 匹 và chữ 夫 trong thất phu
Chữ thất (匹) trước hết là một lượng từ. Người xưa nói “nhất thất mã”, một con ngựa, hay “nhất thất bố”, một tấm vải. Từ nghĩa đếm từng cái một ấy mà chữ này có thêm nghĩa đơn lẻ, bình thường. Thiều Chửu giảng thất phu là một người đàn ông thường, thất phụ (匹婦) là một người đàn bà thường.
Chữ phu (夫) là người đàn ông đã trưởng thành; cùng gốc có trượng phu, phu quân, nông phu. Ghép lại, thất phu vốn chỉ đơn giản là “một người đàn ông”, một người trong muôn người.
Điều cần nhớ: chữ thất ở đây không phải thất (失) là mất, cũng không phải thất (七) là bảy hay thất (室) là nhà. Ai đoán thất phu là “người chồng thất lạc” là đã đọc nhầm chữ.
Từ sách Mạnh Tử đến câu thơ Đồ Chiểu
Thành ngữ thất phu chi dũng (匹夫之勇) có từ sách Mạnh Tử: cái dũng của kẻ chỉ biết tuốt gươm trợn mắt, đánh được một người mà thôi. Về sau, sử sách hay mượn bốn chữ này để chê những tướng mạnh sức mà kém mưu. Tiếng Việt quen nói gọn là “cái dũng của kẻ thất phu”, đối lập với dũng khí của người biết suy tính.
Trong văn học Việt, Nguyễn Đình Chiểu dùng từ này trong Truyện Lục Vân Tiên, ở câu:
Uổng trang thục nữ sánh cùng thất phu.
“Thục nữ” là người con gái hiền thục; đặt cạnh “thất phu”, câu thơ nói nỗi tiếc cho một người con gái tốt phải lấy kẻ tầm thường. Thơ lục bát của Đồ Chiểu dùng từ Hán Việt kiểu này khá nhiều, có thể đọc thêm trong tuyển thơ Nguyễn Đình Chiểu trước và sau khi Pháp sang.
Thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách
Không phải lúc nào thất phu cũng là chữ chê. Câu “thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách” (thiên hạ thịnh hay suy, người dân thường cũng có trách nhiệm) đặt ý quan trọng nhất vào chính hai chữ ấy. Ý tưởng này có từ sách Nhật tri lục của Cố Viêm Vũ, học giả cuối Minh đầu Thanh: giữ một triều đại là việc của vua quan, còn giữ thiên hạ thì kẻ thường dân thấp hèn cũng có phần. Người đời sau rút lại thành tám chữ quen thuộc.
Ở Việt Nam, câu này hay được nói thành “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách” và xếp chung với những câu tục ngữ về tinh thần trách nhiệm. Đây là một dẫn chứng gọn cho đề nghị luận về trách nhiệm của người trẻ: không cần chức vụ mới có bổn phận, và chính người “bình thường” là số đông làm nên vận nước.
Thất phu khác tiểu nhân, thường dân ra sao?
| Từ | Chỗ nhấn | Ghi chú |
|---|---|---|
| Thất phu | Thân phận thấp, tầm thường; về sau thêm ý hèn kém | Từ cũ, hay dùng để mắng |
| Thường dân | Người dân không có chức vụ | Trung tính, vẫn dùng bình thường |
| Tiểu nhân | Nhân cách hẹp hòi, hay vì lợi mà hại người | Nói về đạo đức, không nói về địa vị |
| Phàm phu | Người phàm, người tầm thường | Hay gặp trong văn Phật giáo, ít ý mắng |
| Trượng phu, quân tử (trái nghĩa) | Người đàn ông có khí phách, có đức | Dùng để khen |
Thất phu chê cái thấp kém, cái tầm thường. Kẻ tiểu nhân trong cách nhìn Nho gia thì có thể giàu sang, quyền cao mà lòng dạ vẫn nhỏ nhen. Một ông quan to vẫn có thể là tiểu nhân; còn thất phu theo nghĩa gốc thì chẳng bao giờ là quan.
Một lưu ý dùng từ: gọi ai đó là “thất phu” trong đời thường nghe vừa cũ vừa nặng nề. Muốn nói một người cục cằn, thiếu suy nghĩ, tiếng Việt hiện nay có nhiều chữ dễ nghe hơn. Còn trong truyện cổ trang hay bài văn phân tích nhân vật, thất phu lại là đúng chữ, vì nó mang theo cả cái nhìn đẳng cấp của xã hội xưa.
Thất phu trong sách cổ và trên phim
Thất phu nghĩa là gì trong truyện kiếm hiệp, cổ trang?
Thường là tiếng mắng, nghĩa như “tên tầm thường”, “đồ hèn”. Nhân vật dùng nó để hạ thấp đối thủ, coi người kia không đáng mặt anh hùng.
Đồ thất phu là gì?
Là câu mắng một người đàn ông, ý nói người đó hèn kém, thô lỗ, không đáng được tôn trọng. Đây là lời xúc phạm, không nên dùng để gọi người thật.
Thất phu chi dũng là gì?
Là cái dũng của kẻ thất phu: liều lĩnh, chỉ dựa vào sức mạnh nhất thời, thiếu mưu tính. Thành ngữ này dùng để chê người hăng máu mà không biết nhìn xa.
Thất phu hữu trách nghĩa là gì?
Là người dân thường cũng có trách nhiệm. Câu đầy đủ “thiên hạ hưng vong, thất phu hữu trách” nhắc rằng chuyện thịnh suy của đất nước không chỉ là việc của người cầm quyền.