Thán từ là những tiếng người ta thốt ra để bày tỏ ngay cảm xúc của mình (như ôi, chao ôi, trời ơi, ơ, ồ) hoặc dùng để gọi và đáp (như này, ơi, vâng, dạ). Từ điển còn gọi nó là cảm từ. Học sinh thường gặp câu hỏi “thán từ là gì lớp 8” ở phần Thực hành tiếng Việt, kèm yêu cầu nêu cảm xúc mà mỗi thán từ thể hiện.
| Khái niệm | Từ bộc lộ trực tiếp cảm xúc hoặc dùng để gọi, đáp |
| Tên gọi khác | Cảm từ; tiếng Anh là interjection |
| Thuộc | Nhóm hư từ, không gọi tên sự vật, hành động hay tính chất |
| Dấu hiệu nhận biết | Thường đứng đầu câu, ngăn bằng dấu phẩy hoặc dấu chấm than; có thể tách thành câu đặc biệt |
| Học ở | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập hai (Thực hành tiếng Việt sau văn bản Lặng lẽ Sa Pa) |

Sách Ngữ văn 8 và từ điển nói gì về thán từ
Ở chương trình mới, thán từ được dạy trong Ngữ văn 8 bộ Kết nối tri thức, tập hai, ngay sau truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa. Sách nêu hai việc thán từ làm: một là bộc lộ trực tiếp tình cảm, cảm xúc; hai là dùng để gọi đáp. Chữ “trực tiếp” rất quan trọng. Câu “Em rất ngạc nhiên” cũng nói về cảm xúc, nhưng đó là kể lại, gọi tên cảm xúc bằng tính từ. Còn khi buột miệng “Ơ!”, người nói không kể gì cả, cảm xúc bật ra ngay trong tiếng kêu ấy.
Từ điển tiếng Việt xếp thán từ vào loại từ và ghi chú nó cũng là “cảm từ”. Chữ thán (嘆) trong Hán Việt có nghĩa là than, thở dài, cũng là chữ trong cảm thán, than thở. Nhìn tên gọi là đoán được việc của nó: cất lên một tiếng than, tiếng kêu.
Ở chương trình cũ, thán từ được học chung với trợ từ trong một bài lớp 8. Nếu cần ôn cả nhóm hư từ này, xem thêm bài trợ từ và cách tách nó khỏi những từ gần nghĩa.
Hai nhóm thán từ: tiếng kêu cảm xúc và tiếng gọi đáp
| Nhóm | Ví dụ thường gặp | Dùng khi |
|---|---|---|
| Bộc lộ cảm xúc | ôi, chao ôi, than ôi, trời ơi, ơ, ô, ồ, ái, ối, ui da, eo ôi, hừ, chà | Ngạc nhiên, vui mừng, đau đớn, tiếc nuối, sợ hãi, chê bai, thán phục |
| Gọi đáp | này, ơi, hỡi, ê, vâng, dạ, ừ, ạ (đứng một mình khi đáp) | Gọi người khác chú ý, hoặc đáp lại lời gọi, lời hỏi |
Cùng một thán từ có thể mang nhiều cảm xúc tùy câu. Ôi trong “Ôi, đẹp quá!” là thán phục; trong “Ôi, sao khổ thế này!” lại là than thở. Vì vậy khi làm bài, đừng học thuộc kiểu “ôi = vui”. Phải đọc cả câu, xem tình huống, rồi mới gọi tên cảm xúc.
Nhóm gọi đáp cũng cho biết quan hệ giữa hai người. Đáp “vâng”, “dạ” là lễ phép với người lớn; “ừ” dùng với bạn bè hoặc người nhỏ tuổi hơn; “ê” để gọi thì suồng sã, nói với thầy cô là thiếu lịch sự.
Thán từ đứng ở đâu trong câu?
Muốn nhận ra thán từ, có thể dựa vào ba dấu hiệu.
- Vị trí. Phần lớn thán từ đứng đầu câu: “Chà, cậu giỏi thật!”. Đôi khi chen giữa câu, như chữ ôi nằm giữa câu văn dài trong Lặng lẽ Sa Pa, hoặc đứng sau một từ gọi: “Lan ơi”.
- Dấu câu đi kèm. Thán từ thường được ngăn với phần còn lại bằng dấu phẩy, hoặc đứng riêng thành một câu đặc biệt có dấu chấm than: “Ối! Con chó nhà ai chạy ra kìa.”
- Bỏ đi thì câu vẫn đủ thông tin. “Trời ơi, mất điện rồi!” bỏ trời ơi còn “Mất điện rồi!”. Sự việc giữ nguyên, chỉ mất tiếng kêu cảm xúc. Thán từ không làm chủ ngữ hay vị ngữ.
Cẩn thận với chữ trời. Trong “Trời ơi, muộn rồi!”, trời ơi là thán từ vì không ai đang gọi bầu trời thật. Còn trong “Trời hôm nay trong xanh”, trời là danh từ làm chủ ngữ.
Những tiếng kêu trong truyện Lặng lẽ Sa Pa
Sách chọn Lặng lẽ Sa Pa làm ngữ liệu không phải ngẫu nhiên. Truyện kể cuộc gặp ngắn ngủi giữa anh thanh niên làm công tác khí tượng trên đỉnh Yên Sơn với ông họa sĩ và cô kĩ sư, và thán từ cho ta nghe được nhịp tim của các nhân vật.
Tiếc rẻ vì thời gian quá ngắn
– Trời ơi, chỉ còn có năm phút!
Trời ơi đứng đầu câu, kết hợp dấu chấm than. Anh thanh niên một mình trên núi quanh năm, hiếm khi có khách; vui chuyện quá thì đồng hồ đã điểm giờ chia tay. Thán từ cho thấy anh tiếc thật lòng, chứ không chỉ khách sáo.
Ngạc nhiên khi thấy mình được vẽ
Ơ, bác vẽ cháu đấy ư?
Chỉ một tiếng ơ mà gói cả sự bất ngờ lẫn bối rối. Anh vốn nghĩ mình chẳng có gì đáng để vẽ. Thán từ ngắn, câu hỏi ngắn, hợp với tính cách khiêm tốn của nhân vật, người lập tức giới thiệu với họa sĩ những người khác mà anh cho là xứng đáng hơn.
Truyện còn có những chữ ôi, chao ôi nằm trong dòng suy nghĩ của ông họa sĩ, cho thấy niềm xúc động của người nghệ sĩ khi bắt gặp một con người đẹp. Đọc toàn bộ hướng dẫn trong bài soạn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long sẽ thấy mỗi tiếng kêu ấy đặt đúng vào khoảnh khắc nào.
Thán từ khác trợ từ, tình thái từ và câu cảm thán ra sao?
| Đơn vị | Bản chất | Ví dụ |
|---|---|---|
| Thán từ | Một từ, tự nó là tiếng kêu hoặc tiếng gọi đáp; thường đứng đầu câu | Chao ôi, biển đẹp quá! |
| Trợ từ | Bám vào một từ ngữ để nhấn mạnh, đánh giá | Nó ăn những ba bát. |
| Tình thái từ | Thường ở cuối câu, tạo câu hỏi, câu khiến, câu cảm hoặc thêm sắc thái | Con đi học nhé. |
| Câu cảm thán | Cả một câu bộc lộ cảm xúc; có thể chứa thán từ hoặc không | Đẹp biết bao! |
Hai chỗ hay nhầm. Thứ nhất, ạ: trong “Con chào bác ạ”, ạ cuối câu là tình thái từ thể hiện lễ phép; nhưng khi chỉ đáp một tiếng “Dạ!” thì dạ là thán từ gọi đáp. Thứ hai, câu có thán từ thường là câu cảm, nhưng câu cảm không bắt buộc có thán từ. “Hoa nở đẹp quá!” vẫn là câu cảm dù không có chữ nào như ôi, chao ôi. Muốn ôn kiểu câu này, xem bài câu cảm và các từ ngữ cảm thán thường gặp.
Năm bài tập nhận diện thán từ có đáp án
Câu 1: Tìm thán từ trong các câu sau: a) “Ồ, tuyết rơi kìa!”; b) “Này, cậu quên mũ!”; c) “Ui da, kim đâm vào tay rồi.”
Đáp án: a) ồ, bộc lộ ngạc nhiên thích thú; b) này, thán từ gọi; c) ui da, kêu đau.
Câu 2: Chữ “trời” trong câu nào là bộ phận của thán từ? a) “Trời ơi, quên mang vở rồi!” b) “Trời sập tối rất nhanh.”
Đáp án: Câu a. Trời ơi là tiếng kêu than vì tiếc, không nói gì về bầu trời; bỏ đi câu vẫn đủ nghĩa. Ở câu b, trời là danh từ, làm chủ ngữ của câu.
Câu 3: Hai câu “Ôi, con mèo dễ thương quá!” và “Ôi, lại trượt rồi!” cùng dùng “ôi”. Cảm xúc có giống nhau không?
Đáp án: Không. Câu thứ nhất là thích thú, khen ngợi. Câu thứ hai là thất vọng, chán nản. Cùng một thán từ, cảm xúc do cả câu và tình huống quyết định.
Câu 4: Trong đoạn hội thoại sau, thán từ nào là thán từ gọi đáp? – “Minh ơi, xuống ăn cơm!” – “Vâng, con xuống ngay ạ!”
Đáp án: Ơi (gọi) và vâng (đáp). Chữ ạ cuối câu là tình thái từ, thêm sắc thái lễ phép, không phải thán từ.
Câu 5: Viết một đoạn văn 3–4 câu kể lúc em nhận kết quả thi, có dùng ít nhất hai thán từ thuộc hai nhóm khác nhau.
Đáp án tham khảo: “Mẹ gọi vọng lên: ‘Hà ơi, cô giáo gửi điểm rồi kìa!’. Em chạy xuống, tim đập thình thịch. Nhìn con số chín trên màn hình, em reo lên: ‘A, con làm được rồi!'” Thán từ gọi đáp: ơi; thán từ bộc lộ cảm xúc: a (vui mừng).
Thán từ: những điều học sinh hay thắc mắc
Thán từ là gì lớp 8, nói ngắn gọn để học thuộc?
Thán từ là từ dùng để bộc lộ trực tiếp cảm xúc hoặc để gọi đáp. Có hai nhóm: nhóm cảm xúc (ôi, trời ơi, ơ) và nhóm gọi đáp (này, ơi, vâng, dạ). Thường đứng đầu câu và có thể tách thành câu đặc biệt.
Thán từ là gì, cho ví dụ dễ nhớ?
Ba ví dụ đủ dùng: “Chao ôi, biển rộng quá!” (thán phục), “Ối, con gián!” (sợ hãi), “Dạ, con nghe rồi ạ.” (đáp lời). Mỗi chữ in đầu câu đều là một tiếng kêu hoặc tiếng đáp, bỏ đi câu vẫn hiểu được.
Thán từ gọi đáp là gì?
Đó là những từ dùng để gọi người khác (này, ơi, hỡi, ê) hoặc để đáp lại (vâng, dạ, ừ). Chọn thán từ gọi đáp nào cho thấy quan hệ giữa hai người, lễ phép hay thân mật.
Thán từ trong tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh gọi là interjection, gồm những từ như oh, wow, ouch, hey. Cách dùng khá giống tiếng Việt: thường đứng đầu câu, ngăn bằng dấu phẩy hoặc dấu chấm than.
Thán từ có làm thành phần chính của câu không?
Không. Thán từ không làm chủ ngữ hay vị ngữ. Khi nằm trong câu, nó đứng tách ra như một thành phần riêng; khi đứng một mình, nó tạo thành câu đặc biệt như “Ôi!” hay “Vâng.”.