Thái giám là người đàn ông đã bị hoạn, không còn khả năng có con, được tuyển vào hầu hạ trong cung vua thời phong kiến. Sử sách còn gọi là hoạn quan, quan hoạn, quan thị; phim cổ trang Trung Quốc lồng tiếng Việt hay gọi họ là “công công”. Đây là từ cũ, chỉ dùng khi nói về lịch sử, văn chương hoặc phim ảnh.
| Nghĩa | Hoạn quan hầu hạ trong cung cấm thời phong kiến |
| Gốc từ | Hán Việt 太監: thái (lớn, bậc cao) + giám (trông coi; tên một cơ quan trong cung) |
| Loại từ | Danh từ, thuộc lớp từ cũ |
| Tên gọi khác | Hoạn quan, quan hoạn, quan thị, nội giám, công công |

Thái giám: chữ giám nghĩa là trông coi
Chữ giám (監) nghĩa là trông coi, xem xét. Nó vẫn sống khỏe trong tiếng Việt qua giám sát, giám đốc, giám khảo, giám thị. Ở Trung Hoa xưa, “giám” còn là tên gọi một loại cơ quan trong triều, lo một mảng việc riêng. Chữ thái (太) là lớn, bậc cao nhất, như trong thái tử, thái hậu, thái sư.
Vậy lúc đầu thái giám chỉ là tên một chức quan đứng đầu một giám. Đến đời Minh, các giám phục vụ việc trong cung đều giao cho hoạn quan nắm, và người giữ chức thái giám nhất thiết phải là hoạn quan. Từ đó cái tên chức tước biến thành tên gọi chung cho cả lớp người này. Sang đời Thanh, gần như mọi hoạn quan đều được gọi là thái giám.
Còn chữ hoạn (宦) trong hoạn quan vốn có nghĩa là làm quan, hầu việc nhà quan; hoạn lộ là con đường làm quan, chẳng dính gì đến cung cấm. Có điều trong tiếng Việt, động từ “hoạn” còn chỉ việc thiến gia súc, nên nghe “quan hoạn” người ta nghĩ ngay đến chuyện kia.
Thái giám làm những việc gì trong cung
Thái giám lo đủ thứ việc ở nội cung: hầu vua và hậu phi, truyền lệnh, coi cửa, quét dọn, giữ kho, lo xe kiệu. Lý do triều đình chỉ dùng người đã bị hoạn rất đơn giản: hậu cung toàn phụ nữ của vua, nhà vua muốn những người ra vào nơi ấy không thể có quan hệ với phi tần.
Địa vị của họ thường thấp, nhưng vì ở sát bên vua nên nhiều người nắm được cả bí mật lẫn quyền lực. Lịch sử Trung Hoa ghi lại không ít đời vua để thái giám lộng quyền, can dự vào việc triều chính. Đời họ cũng nhiều nỗi buồn: không vợ con, không người nối dõi, về già không biết nương tựa vào ai.
Lộng quyền kiểu ấy khác hẳn trường hợp một hoàng thân hay thái hậu được giao thay vua nhỏ tuổi trông coi việc nước, tức là giữ chức nhiếp chính.
Thái giám ở cung đình Việt Nam
Nước ta cũng có hoạn quan, được ghi nhận từ thời Lý và còn qua các đời Trần, Lê, Nguyễn. Rút kinh nghiệm từ chuyện hoạn quan chuyên quyền, vua Minh Mạng ra chỉ dụ buộc họ chỉ lo việc hầu hạ, sai bảo trong cung, cấm dự vào việc triều chính.
Dưới triều Nguyễn, thái giám về già sống ở Cung giám viện, phía bắc Hoàng thành Huế. Không con cháu thờ phụng, họ góp công đức cho chùa Từ Hiếu để khi mất được chôn cất và cúng giỗ ở đó. Khu mộ thái giám trong khuôn viên chùa vẫn còn, nên dân Huế quen gọi Từ Hiếu là chùa Thái giám.
Cùng phục vụ trong cung còn có những người nấu bếp cho vua, gọi là ngự trù triều Nguyễn, một chữ nay ít ai còn nhớ.
Hoạn quan trong trang tùy bút của Phạm Đình Hổ
Học sinh từng học Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh (trích Vũ trung tùy bút) sẽ nhớ “bọn hoạn quan cung giám”. Chúa Trịnh Sâm mê cây cảnh, chim quý; bọn hoạn quan nương thế chúa đi dò nhà nào có cây đẹp, chim hay thì biên hai chữ “phụng thủ”, đêm đến sai lính vào lấy rồi vu cho chủ nhà tội giấu vật dâng chúa để dọa lấy tiền. Có nhà phải tự chặt cây, phá bỏ của mình cho khỏi tai vạ. Đoạn văn ngắn mà cho thấy rõ quyền thế của những người hầu cận trong phủ chúa. Xem tóm tắt và bố cục ở bài tác phẩm Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh của Phạm Đình Hổ.
Câu dùng thông thường: Trong phim, viên thái giám già cầm phất trần đứng hầu bên long sàng.
Thái giám, thị vệ, cung nữ: ai làm gì trong hoàng cung
| Từ | Chỉ ai | Ghi chú |
|---|---|---|
| Thái giám, hoạn quan | Đàn ông đã bị hoạn, hầu hạ trong nội cung | Hai từ dùng thay nhau được |
| Công công | Cách gọi thái giám trong phim cổ trang | Lối gọi tôn xưng, nghe như “ông” |
| Thị vệ | Lính hầu cận, bảo vệ vua | Đàn ông bình thường, không phải hoạn quan |
| Cung nữ | Phụ nữ phục vụ trong cung | Cùng làm việc ở hậu cung với thái giám |
| Thái y, thái sư | Thầy thuốc của vua; quan đại thần dạy vua | Chung chữ “thái” nhưng không phải thái giám |
Tiếng Việt không có từ trái nghĩa trực tiếp với thái giám. Lớp từ cùng nhóm là tên những người phục vụ trong cung, như bảng trên. Muốn dùng từ Hán Việt cho đúng chỗ, nên xem lại cách phân biệt ở bài từ Hán Việt và cách dùng cho đúng sắc thái.
Một lưu ý nhỏ mà quan trọng: gọi đùa một bạn nam có giọng cao là “thái giám” là trêu chọc ngoại hình, dễ làm người nghe tổn thương. Chữ này nên để dành cho sách sử và phim cổ trang.
Thái giám qua màn ảnh cổ trang và sách sử
Hoạn quan là gì?
Hoạn quan là người đàn ông bị hoạn để vào làm việc trong cung, tức cùng nghĩa với thái giám. Sách sử Việt Nam dùng “hoạn quan” nhiều hơn; “thái giám” quen thuộc hơn nhờ phim ảnh.
Vì sao trong phim gọi thái giám là công công?
“Công” (公) vốn là chữ dùng để gọi kính người đàn ông bậc trên. Gọi “công công” là cách người trong cung tôn xưng thái giám, nhất là những người có chức vụ.
Thái giám tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh dùng eunuch; khi muốn nói rõ hơn là hoạn quan trong cung vua thì viết palace eunuch hoặc court eunuch.
Việt Nam có thái giám không?
Có. Hoạn quan có mặt ở triều đình nước ta từ thời Lý đến thời Nguyễn. Dấu tích dễ thấy nhất là khu mộ thái giám triều Nguyễn trong chùa Từ Hiếu ở Huế.
Phim về nhà Minh hay đặt thái giám Đông xưởng cạnh Cẩm y vệ nhà Minh, đội mật vụ mặc áo gấm khét tiếng.