Tâm hồn là toàn bộ ý nghĩ và tình cảm làm nên đời sống bên trong của một con người: cách ta rung động, yêu ghét, mơ ước, nhìn đời. Nói ai “có tâm hồn đẹp” là khen thế giới bên trong ấy trong trẻo, giàu lòng thương; còn “vẻ đẹp tâm hồn” là cái đẹp của tính nết, của tấm lòng, đối lập với vẻ đẹp bên ngoài.
| Nghĩa ngắn | Ý nghĩ và tình cảm, thế giới bên trong của mỗi người (nói chung) |
| Gốc từ | Hán Việt 心魂: tâm (lòng, tim) + hồn (phần tinh thần) |
| Loại từ | Danh từ |
| Hay đi với | trong sáng, nhạy cảm, nghệ sĩ, đồng điệu, tâm hồn trẻ thơ |
| Tiếng Anh | soul; đôi khi spirit, heart |

Tâm hồn: chữ tâm gặp chữ hồn
Chữ tâm (心) vẽ hình quả tim. Người xưa tin tim là nơi nghĩ ngợi, nên mọi thứ thuộc về ý nghĩ, tình cảm đều quy về chữ tâm: tâm tư, tâm sự, tâm trạng, tâm lí. Về các nét nghĩa của riêng chữ này, bài chữ tâm 心 và nghĩa của hai chữ có tâm nói kĩ hơn.
Chữ hồn (魂) thì Thiều Chửu giảng là phần hồn, cái làm chủ phần tinh thần của con người; lúc sống hồn với phách quấn nhau, lúc chết thì lìa nhau. Từ đó có linh hồn, hồn vía, mất hồn, hoảng hồn.
Ghép lại, tâm hồn là cái lòng và cái hồn của một người, tức phần không cầm nắm được nhưng ai cũng biết mình có. Điều thú vị là trong lời nói hằng ngày, tâm hồn gần như đã rũ bỏ màu tâm linh của chữ hồn. Khen ai có “tâm hồn nghệ sĩ” thì chẳng ai nghĩ tới chuyện ma quỷ, mà nghĩ tới một người dễ xúc động trước cái đẹp.
Một thế giới bên trong, không nhìn thấy
Mục từ tâm hồn trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học gom cả tâm tư lẫn tình cảm vào một chữ, coi đó là đời sống nội tâm của con người, và ghi chú thêm rằng đây là cách nói chung, tổng quát. Lời ghi chú ấy đáng để ý: tâm hồn không phải một cảm xúc riêng lẻ lúc vui lúc buồn, mà là cái nền chung, bền lâu, của cả một con người.
Vì thế từ này thường đi với những tính từ chỉ phẩm chất lâu dài:
- Một tâm hồn trong sáng: nói trẻ nhỏ, người chưa vướng toan tính.
- Có tâm hồn nghệ sĩ: nhạy với cái đẹp, hay mơ mộng.
- Dồn hết tâm hồn vào bức tranh: làm bằng cả tấm lòng.
- Hai tâm hồn đồng điệu: hai người hiểu nhau, rung lên cùng một nhịp.
Còn cảm xúc thoáng qua thì người ta dùng tâm trạng: hôm nay tâm trạng tệ, chứ không ai nói hôm nay tâm hồn tệ. Muốn tách bạch thêm, có thể xem bài giải nghĩa cảm xúc qua chữ 感觸.
Tâm hồn, linh hồn, tâm trí, nội tâm
| Từ | Thiên về | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tâm hồn | Tình cảm, cách cảm nhận, phẩm chất bên trong | Tâm hồn nhạy cảm |
| Linh hồn | Phần tinh thần mà tôn giáo cho là tách khỏi thể xác; nghĩa bóng là cái cốt lõi | Cầu cho linh hồn người đã khuất; anh ấy là linh hồn của đội |
| Tâm trí | Suy nghĩ, sự chú ý | Tâm trí để đâu mà quên chìa khóa |
| Nội tâm | Những gì diễn ra bên trong, ít bộc lộ | Diễn biến nội tâm nhân vật |
| Tâm trạng | Trạng thái cảm xúc trong một lúc | Tâm trạng háo hức trước ngày khai giảng |
Gần nghĩa với tâm hồn còn có hồn, lòng, tấm lòng. Từ đứng đối lập là thể xác: “thể xác và tâm hồn”. Người ít bộc lộ thế giới bên trong ấy ra ngoài thì thường được gọi là người sống nội tâm.
Cần chữ thay cho tâm hồn khi viết văn, hoặc tìm phía đối lập như thể xác, thân xác, hãy đọc đồng nghĩa, trái nghĩa với tâm hồn.
Tâm hồn chỉ thay được tinh thần ở một nghĩa; còn khi nói giữ vững tinh thần hay tinh thần trách nhiệm thì chọn chữ khác, xem đồng nghĩa, trái nghĩa với tinh thần.
Viết về vẻ đẹp tâm hồn trong bài văn
Đề nghị luận “vẻ đẹp tâm hồn và vẻ đẹp hình thức” xuất hiện khá đều ở THCS. Ông bà ta đã có sẵn hai câu làm điểm tựa: Tốt gỗ hơn tốt nước sơn và Cái nết đánh chết cái đẹp. Một hướng triển khai:
- Giải thích: vẻ đẹp tâm hồn là vẻ đẹp của lòng tốt, sự tử tế, trung thực, biết thương người; vẻ đẹp hình thức là dung mạo, cách ăn mặc.
- Bàn luận: hình thức gây ấn tượng ban đầu, tâm hồn giữ người khác ở lại lâu dài; hình thức phai theo tuổi, tâm hồn có thể đẹp lên mãi.
- Mở rộng: không vì thế mà coi thường vẻ ngoài; chỉn chu là tôn trọng người khác. Phê phán lối sống chạy theo bề ngoài, sống ảo.
- Dẫn chứng văn học: chàng Sọ Dừa xấu xí mà tài giỏi, tốt bụng; trong thơ, có những bài như Nắng mới của Lưu Trọng Lư cho thấy một tâm hồn đa cảm qua kí ức về mẹ, xem văn bản bàn về Nắng mới trong Ngữ văn 8.
Từ tâm hồn ăn uống đến tâm hồn đồng điệu
Vẻ đẹp tâm hồn là gì?
Là cái đẹp của phần bên trong: lòng nhân hậu, sự chân thành, biết sẻ chia, biết rung động trước cái đẹp. Nó không thấy được ngay như dung mạo, nhưng lộ ra qua cách một người đối xử với người khác.
Tâm hồn ăn uống là gì?
Là cách nói đùa về người mê ăn, thấy đồ ngon là sáng mắt, đi đâu cũng tìm quán ngon. Cụm này mượn chữ tâm hồn để làm quá lên cho vui, kiểu “tâm hồn tôi chỉ có trà sữa và bánh tráng trộn”, không mang nghĩa chê.
Tâm hồn đồng điệu là gì?
Là hai người có cách cảm, cách nghĩ giống nhau đến mức chưa nói đã hiểu, cùng thích một bài hát, cùng xúc động trước một cảnh. Chữ đồng điệu vốn là cùng một điệu nhạc, dùng ở đây theo nghĩa bóng.
Tâm hồn tiếng Anh là gì?
Thường dịch là soul: a kind soul (một tâm hồn tốt bụng), body and soul (thể xác và tâm hồn). Khi nói tinh thần, khí chất, có thể dùng spirit; nói tấm lòng thì dùng heart.
Một câu ví dụ đáng giữ cho bài văn: “Người ta có thể quên khuôn mặt một người bạn sau nhiều năm, nhưng hiếm khi quên cái cảm giác được tâm hồn ấy đối xử tử tế.”