Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội là bài phê bình của nhà văn Trần Thanh Địch về truyện dài Quê nội của Võ Quảng, văn bản đọc trong Bài 10 (Trang sách và cuộc sống) sách Ngữ văn 7 Kết nối tri thức tập hai. Đây là văn bản mẫu giúp học sinh biết cách một nhà phê bình đọc và nói về một cuốn sách. Văn VN tóm lược ý chính từng phần, giới thiệu tác giả, rồi đi qua xuất xứ, thể loại, bố cục, hệ thống ý kiến – lí lẽ – bằng chứng, giá trị của văn bản và sơ đồ tư duy để em ôn tập.
Nội dung văn bản Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội
Văn bản in ở SGK tập hai, câu hỏi sau khi đọc ở trang 106. Do văn bản vẫn đang được bảo hộ bản quyền, phần dưới đây chỉ kể lại ý chính bằng lời của Văn VN.

Phần 1 – Nêu vấn đề và hoàn cảnh đời sống trong truyện. Mở đầu, người viết khẳng định mỗi nhà văn có lối nhìn, lối nghĩ, lối viết của riêng mình. Hai truyện dài Tảng sáng và Quê nội của Võ Quảng hầu như không dựa vào cốt truyện, lại có nhiều tuyến, nhiều nhóm nhân vật, vậy mà sức quyến rũ của chúng vẫn thấm dần vào người đọc, được người viết ví “như một mùi hương gây mê”. Câu chuyện diễn ra ở thôn Hòa Phước bên sông Thu Bồn, một làng quê miền Trung, vào những ngày mới sau Cách mạng tháng Tám. Đó là lúc chế độ mới làm thay đổi đời sống của từng nhà, từng người: dân làng vừa dựng chính quyền cách mạng, vừa lo chống giặc giữ làng, ai cũng hăng hái với việc chung, làng quê rộn rã tiếng gọi nhau đi tập luyện.
Phần 2 – Thế giới nhân vật. Theo người viết, nhân vật trong truyện là những con người đáng mến, mỗi người một tính cách nhưng gặp nhau ở sự sốt sắng với công việc xã hội. Có tuyến nhân vật chính xuất hiện nhiều (Cục, Cù Lao và những người lớn trong làng); có tuyến thứ hai ít xuất hiện hơn mà vẫn để lại ấn tượng; lại có tuyến loài vật – con trâu, bầy chó trong xóm – được tả sinh động, con nào cũng có tính nết riêng, bộc lộ rõ khi giận dữ, sợ hãi hay lúc yên phận. Người viết còn kể lại một tình huống thú vị: những cậu bé được giao đi dạy chữ cho một bà cụ thì hóa ra người học trò lớn tuổi ấy thuộc làu ca dao, tục ngữ, thơ ca.
Phần 3 – Người kể chuyện. Hai truyện được kể theo vai “tôi”. Người viết chỉ ra ưu thế của cách kể này: dễ thủ thỉ, dẫn người đọc vào thế giới suy nghĩ riêng của nhân vật, rồi từ đó quan sát cận cảnh những nhân vật xung quanh. Nhưng cách kể ấy cũng có giới hạn: người kể khó nhìn bao quát, không thể nói thay những suy nghĩ, tình cảm bên trong của các nhân vật khác.
Phần 4 – Sức hấp dẫn của tác phẩm. Đoạn kết là một chuỗi liệt kê dồn dập những trang văn khiến người lớn lẫn trẻ nhỏ rung động: buổi học xóa mù chữ ban đêm của dân làng, đốm lửa nhỏ bùng lên từ que diêm, bà cụ vừa học vần vừa đọc thêm ca dao, đàn chó đuổi theo ông Hai Dĩ, mặt sông gợn sóng vỗ vào thuyền… Theo người viết, chính những điều bình thường ấy làm nên sức sống của cuốn sách.
Thông tin tác giả Trần Thanh Địch
Trần Thanh Địch sinh năm 1912, mất năm 2007, người Thừa Thiên Huế. Ông hoạt động trên nhiều lĩnh vực – viết văn, làm báo, phê bình văn học – và dành nhiều tâm huyết cho văn học thiếu nhi. Theo phần giới thiệu tác giả được các tài liệu hướng dẫn học dẫn lại, một số tác phẩm của ông như Đôi tai mèo (1973), Một cần câu (1993) được bạn đọc yêu mến và đánh giá cao.
Văn bản trong SGK cho thấy phong cách phê bình của Trần Thanh Địch: nhận xét tinh tế nhưng không khô khan, lời văn giàu hình ảnh, đọc như một lời trò chuyện về cuốn sách mình yêu thích. Ông không đứng từ xa để phán xét mà say sưa giới thiệu từng nhân vật, từng trang văn, nhờ vậy truyền được niềm hứng thú sang người đọc nhỏ tuổi.
Về tác phẩm được bàn luận: Quê nội (1974) và phần tiếp theo Tảng sáng (1976) là hai truyện dài nổi tiếng của nhà văn Võ Quảng (1920 – 2007), cây bút gắn bó trọn đời với văn học thiếu nhi, viết về làng quê Quảng Nam những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám.
Thông tin tác phẩm Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội
Xuất xứ của văn bản
Văn bản được trích từ cuốn Bàn về văn học thiếu nhi của Trần Thanh Địch, NXB Kim Đồng, 1983. Nhan đề Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội do người biên soạn SGK đặt. Trong Bài 10, văn bản thuộc phần đọc cùng nhà phê bình của Thách thức đầu tiên – Chinh phục những cuốn sách mới.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản nghị luận văn học, cụ thể là nghị luận phân tích một tác phẩm văn học (bài phê bình).
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận; có kết hợp tự sự (lược thuật chi tiết truyện) và biểu cảm (niềm yêu mến của người viết).
Vấn đề nghị luận
Vẻ đẹp giản dị và chân thật của truyện Quê nội, thể hiện qua cách nhìn, cách viết riêng của Võ Quảng: hoàn cảnh đời sống, thế giới nhân vật, người kể chuyện và những trang văn giàu sức hấp dẫn.
Bố cục: Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội có mấy phần?
Văn bản có thể chia làm 4 phần:
- Phần 1 (đoạn đầu): nêu vấn đề – lối viết riêng của Võ Quảng, truyện ít cốt truyện mà vẫn cuốn hút – và giới thiệu hoàn cảnh đời sống trong truyện.
- Phần 2: bàn về thế giới nhân vật với nhiều tuyến khác nhau.
- Phần 3: bàn về người kể chuyện xưng “tôi”, chỉ ra ưu điểm và hạn chế.
- Phần 4 (đoạn cuối): nhận xét chung về sức hấp dẫn của tác phẩm với bạn đọc mọi lứa tuổi.
Ý kiến, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản
| Ý kiến | Lí lẽ, bằng chứng tiêu biểu |
|---|---|
| Truyện ít cốt truyện nhưng hấp dẫn lạ lùng | Mỗi nhà văn có lối viết riêng; truyện có nhiều tuyến, nhiều nhóm nhân vật; sức hút đến âm thầm |
| Truyện tái hiện làng quê đang đổi thay | Không gian làng quê ven sông Thu Bồn, thời gian ngay sau cách mạng; người dân vừa xây chính quyền mới vừa sẵn sàng giữ làng, đặt việc chung lên trước |
| Nhân vật đáng mến, giàu cá tính | Nêu tên nhân vật theo từng tuyến; chuyện dạy chữ cho bà cụ thuộc làu ca dao; con trâu, bầy chó mỗi con một tính |
| Người kể chuyện xưng “tôi” có ưu và nhược | Dễ đi sâu vào tâm hồn nhân vật, quan sát cận cảnh người xung quanh; nhưng khó nhìn xa, khó nói thay nội tâm nhân vật khác |
| Tác phẩm hấp dẫn mọi lứa tuổi | Liệt kê nhiều trang văn tiêu biểu: lớp học ban đêm, đốm lửa que diêm, đàn chó đuổi ông Hai Dĩ, sóng nước bên thuyền… |
Điểm nổi bật trong cách lập luận là người viết kể tóm tắt và liệt kê bằng chứng theo nhóm, hầu như không trích dài – phù hợp với một truyện dài nhiều nhân vật và với bạn đọc chưa đọc tác phẩm.
Tóm tắt văn bản Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội
Trần Thanh Địch cho rằng Tảng sáng và Quê nội của Võ Quảng tuy hầu như không có cốt truyện nhưng vẫn có sức cuốn hút lặng lẽ. Truyện tái hiện làng quê bên sông Thu Bồn sau Cách mạng tháng Tám, khi người dân hăng hái dựng cuộc sống mới. Nhân vật, cả người lẫn vật, đều đáng mến và có cá tính riêng. Lối kể qua vai “tôi” giúp đi sâu vào tâm hồn nhân vật dù còn hạn chế. Những trang văn đời thường, giàu cảm xúc khiến người đọc mọi lứa tuổi xúc động.
Giá trị nội dung
Văn bản làm nổi bật vẻ đẹp giản dị, chân thật của Quê nội: một làng quê miền Trung đổi mới sau Cách mạng, những con người và con vật đáng yêu, những trang văn đời thường mà xúc động. Qua đó, người viết bày tỏ sự trân trọng tài năng Võ Quảng và khơi gợi ở người đọc mong muốn tìm đọc tác phẩm.
Giá trị nghệ thuật
- Bố cục rõ ràng, mỗi đoạn tập trung vào một ý kiến, có câu chủ đề nêu ý.
- Lí lẽ xác đáng, bằng chứng phong phú được lược thuật, liệt kê theo nhóm.
- Lời văn giàu hình ảnh (so sánh sức hút của truyện với mùi hương, cách kể với ống kính máy quay), giọng văn say mê, gần gũi.
- Đánh giá khách quan: vừa khen ưu điểm vừa chỉ ra hạn chế của vai người kể chuyện.
Sơ đồ tư duy Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội
Sơ đồ dưới đây giúp em hệ thống nhanh kiến thức về văn bản.

Lời kết
Khi học văn bản Vẻ đẹp giản dị và chân thật của Quê nội, em cần nhớ: tác giả Trần Thanh Địch (1912 – 2007); văn bản trích từ Bàn về văn học thiếu nhi (1983); thể loại nghị luận phân tích tác phẩm văn học; bố cục 4 phần ứng với vấn đề – nhân vật – người kể chuyện – sức hấp dẫn; bằng chứng chủ yếu lược thuật và liệt kê. Đây là gợi ý hữu ích để em viết bài giới thiệu, phân tích một cuốn sách hay nhân vật em yêu thích ở Bài 10.
Xem thêm:
- Soạn bài Chinh phục những cuốn sách mới
- Tác giả Võ Quảng: cuộc đời, sự nghiệp, phong cách
- Soạn bài Ngàn sao làm việc (Võ Quảng)
- Soạn bài Bầy chim chìa vôi