Liệt kê là biện pháp tu từ sắp xếp nối tiếp nhiều từ, cụm từ cùng loại để nói cho đủ, cho rõ các khía cạnh của một sự việc hay một tâm trạng. Phép liệt kê là gì khi đặt vào câu? Đó là lúc người viết không gói ý trong một chữ chung chung mà kể ra từng thứ một, như “sách, vở, bút, thước”, để người đọc tự thấy được độ nhiều, độ đầy của điều được nói.
| Khái niệm | Sắp xếp hàng loạt từ hoặc cụm từ cùng loại, nối tiếp nhau trong câu |
| Nghĩa của từ | Liệt là bày ra theo hàng, kê là kể ra; liệt kê là kể ra lần lượt từng thứ |
| Thuộc | Biện pháp tu từ cú pháp, đứng cạnh điệp ngữ, phép đối, đảo ngữ |
| Dấu hiệu nhận biết | Chuỗi từ ngữ cùng từ loại, cùng chức năng, ngăn bằng dấu phẩy, dấu chấm phẩy hoặc từ “và”, “nào” |
| Kiểu | Theo cấu tạo: theo từng cặp, không theo cặp; theo ý nghĩa: tăng tiến, không tăng tiến |

Liệt kê qua chuỗi đồ vật bàn quan phủ
Học sinh thường gặp phép liệt kê lần đầu qua một câu văn rất dài của Phạm Duy Tốn trong truyện ngắn Sống chết mặc bay. Ngoài đê, nước sông đang dâng, dân phu lội bùn hộ đê. Trong đình, quan phủ ngồi đánh bài, quanh ngài là cả một bày đồ quý:
…hai bên nào ống thuốc bạc, nào đồng hồ vàng, nào dao chuôi ngà, nào ống vôi chạm, ngoáy tai, ví thuốc, quản bút, tăm bông trông mà thích mắt.
Tác giả không viết “quan có nhiều đồ đắt tiền”. Ông bày từng món ra trước mắt người đọc, món nọ nối món kia, đến mức câu văn dài như một cái bàn chất đầy. Cách kể ấy chính là liệt kê. Sách Ngữ văn 7 (chương trình cũ) dùng chính ví dụ này để dẫn vào bài học. Diễn lại bằng lời thường: liệt kê là đặt liền nhau nhiều từ ngữ cùng loại, để một hiện thực hay một nỗi lòng hiện ra đủ các mặt, thay vì chỉ được gọi tên bằng một chữ chung.
Về mặt chữ, liệt (列) là xếp thành hàng, kê là kể ra, ghi ra. Ngoài văn chương, từ này vẫn được dùng hằng ngày theo nghĩa thường: “liệt kê các khoản chi”, “liệt kê tài liệu tham khảo”. Khi thành biện pháp tu từ, việc kể ra ấy có thêm mục đích gợi hình và gợi cảm, chứ không đơn thuần để thống kê. Muốn xem liệt kê đứng ở đâu giữa các phép tu từ khác, có thể mở bảng tổng hợp các phép tu từ thường gặp.
Dấu hiệu để khoanh đúng chỗ liệt kê
- Có từ ba thành phần trở lên đứng nối nhau. Hai từ đi cùng nhau (“cha và mẹ”) thường chỉ là một cụm đẳng lập bình thường, chưa đủ thành một chuỗi.
- Các thành phần cùng loại. Cùng là danh từ chỉ đồ vật, cùng là động từ chỉ hành động, hay cùng là tính từ chỉ tính chất. Chúng thường giữ cùng một chức năng trong câu, chẳng hạn cùng làm chủ ngữ hoặc cùng làm bổ ngữ.
- Có dấu ngăn cách. Dấu phẩy là phổ biến nhất; chuỗi dài hơn có thể dùng dấu chấm phẩy, hoặc từ nối “và”, “với”, “cùng”; có khi lặp một từ dẫn như “nào… nào…”.
- Bỏ bớt vài thành phần thì câu vẫn đúng ngữ pháp nhưng nghèo đi. Đây là phép thử nhanh: nếu cắt chuỗi còn một món mà ý vẫn trọn, nhưng mất hẳn cái cảm giác “nhiều” và “đủ”, thì đó là liệt kê có dụng ý.
Bốn kiểu liệt kê theo hai cách chia
Các kiểu liệt kê trong sách giáo khoa được chia theo hai tiêu chí độc lập, nên một chuỗi liệt kê luôn mang hai “nhãn” cùng lúc.
| Tiêu chí | Kiểu | Đặc điểm | Ví dụ tự đặt |
|---|---|---|---|
| Cấu tạo | Liệt kê không theo cặp | Các thành phần đứng riêng lẻ, nối nhau thành chuỗi | Mẹ mua về cải ngọt, bí đao, cà chua, mấy quả trứng gà. |
| Liệt kê theo từng cặp | Hai thành phần ghép thành một đôi, thường nối bằng “và”, “với”; các đôi xếp cạnh nhau | Thầy dặn mang theo bút và thước, áo mưa và nón. | |
| Ý nghĩa | Liệt kê không tăng tiến | Các thành phần ngang hàng, đổi chỗ cho nhau không làm hỏng ý | Vườn bà trồng ổi, mít, chuối, đu đủ. |
| Liệt kê tăng tiến | Xếp theo trình tự tăng dần (nhỏ đến lớn, gần đến xa, nhẹ đến nặng), không đảo được | Tin vui truyền từ lớp học ra cả khối, cả trường, rồi cả xã. |
Ví dụ: chuỗi “ổi, mít, chuối, đu đủ” vừa là liệt kê không theo cặp, vừa không tăng tiến. Còn trong câu về tin vui, nếu đảo “cả xã” lên trước “lớp học” thì nghe rất ngược, vì trật tự từ hẹp đến rộng mới là điều câu muốn nói.
Ba câu văn, ba tác dụng khác nhau
Đề đọc hiểu gần như luôn hỏi kèm “nêu tác dụng”. Câu trả lời tốt không dừng ở công thức “làm câu văn sinh động”, mà chỉ ra chuỗi liệt kê làm hiện lên điều gì cụ thể.
Đồ chơi của quan và nỗi khổ của dân
Quay lại câu văn của Phạm Duy Tốn: chuỗi “ống thuốc bạc, đồng hồ vàng, dao chuôi ngà, ống vôi chạm…” là liệt kê không theo cặp, không tăng tiến. Tác dụng của nó nằm ở sự đối lập. Càng nhiều món quý bày quanh quan phủ, người đọc càng thấy rõ cái cảnh dân phu ngoài kia đang dầm mưa giữ đê. Liệt kê ở đây làm nền cho tiếng cười châm biếm và nỗi xót xa. Phần soạn bài Sống chết mặc bay của Phạm Duy Tốn phân tích kĩ thủ pháp tương phản này.
Từng cặp một trong lời thề độc lập
Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.
Câu kết Tuyên ngôn Độc lập của Hồ Chí Minh liệt kê theo từng cặp: một cặp thuộc về sức mạnh bên trong (tinh thần, lực lượng), một cặp thuộc về những gì quý nhất của mỗi người (tính mạng, của cải). Xếp thành đôi khiến câu văn cân đối, nhịp chắc như một lời tuyên thệ. Người đọc hiểu rằng dân tộc sẵn sàng đem ra tất cả, không giữ lại thứ gì. Muốn đọc lại bối cảnh của câu văn, xem bài giới thiệu tác phẩm Tuyên ngôn Độc lập.
Liệt kê hành động trong bài văn của học sinh
Một câu như “Sáng nào mẹ cũng dậy từ năm giờ, nhóm bếp, nấu cơm, tưới rau, rồi đạp xe ra chợ” liệt kê các động từ. Chuỗi việc nối nhau không nghỉ giúp người đọc cảm được sự tần tảo của mẹ mà người viết không cần thốt lên “mẹ vất vả lắm”. Đây là kiểu liệt kê rất nên dùng trong văn biểu cảm và văn tả người.
Đặt liệt kê cạnh điệp ngữ
| Tiêu chí | Liệt kê | Điệp ngữ |
|---|---|---|
| Cái được lặp lại | Không lặp từ; mỗi thành phần là một từ khác nhau | Lặp lại chính một từ, cụm từ |
| Mục đích chính | Kể cho đủ, cho nhiều mặt | Nhấn mạnh, tạo nhịp, khắc sâu cảm xúc |
| Ví dụ | Nhà còn gạo, muối, nước mắm, dầu ăn. | Nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ con đường đất đỏ. |
Hai phép này hay đi cùng nhau. Trong câu “nhớ nhà, nhớ mẹ, nhớ con đường đất đỏ”, chữ nhớ được điệp, còn “nhà, mẹ, con đường đất đỏ” là một chuỗi liệt kê. Khi gặp câu như vậy, nên gọi tên đủ cả hai. Bài điệp ngữ và các dạng điệp thường gặp có thêm nhiều ví dụ để so.
Thực hành nhận diện phép liệt kê
Câu 1: Tìm phép liệt kê trong câu “Trên bàn học của Lan có sách giáo khoa, vở bài tập, hộp bút và một chậu xương rồng nhỏ” và cho biết thuộc kiểu nào theo cấu tạo.
Đáp án: Chuỗi liệt kê là “sách giáo khoa, vở bài tập, hộp bút và một chậu xương rồng nhỏ”. Đây là liệt kê không theo cặp: các thành phần đứng riêng lẻ, chỉ có một chữ “và” trước thành phần cuối, không ghép thành đôi.
Câu 2: Câu “Cô giáo dặn chúng em mang theo áo mưa và mũ, nước uống và đồ ăn nhẹ” dùng kiểu liệt kê nào?
Đáp án: Liệt kê theo từng cặp: “áo mưa và mũ” là cặp đồ che mưa nắng, “nước uống và đồ ăn nhẹ” là cặp đồ ăn uống. Mỗi cặp nối bằng “và”, hai cặp ngăn nhau bằng dấu phẩy.
Câu 3: Trong câu “Bão làm đổ cây trong vườn, tốc mái nhà kho, rồi cuốn trôi cả cây cầu đầu làng”, có đảo được thứ tự các vế không? Vì sao?
Đáp án: Không nên đảo. Các thiệt hại được xếp từ nhẹ đến nặng, từ gần (vườn nhà) ra xa (đầu làng), nên đây là liệt kê tăng tiến. Đảo thứ tự sẽ làm mất cảm giác cơn bão mạnh dần.
Câu 4: Chỉ ra biện pháp tu từ trong câu “Nhớ sân trường, nhớ hàng phượng, nhớ cả tiếng trống tan học” và nêu tác dụng.
Đáp án: Câu dùng cả điệp ngữ (lặp “nhớ”) và liệt kê (“sân trường, hàng phượng, tiếng trống tan học”). Chuỗi liệt kê đi từ hình ảnh đến âm thanh, cho thấy nỗi nhớ trường bao trùm mọi thứ; điệp ngữ làm nhịp câu dồn dập, cảm xúc dâng lên.
Một lưu ý khi làm bài: đừng gọi mọi câu có nhiều dấu phẩy là liệt kê. Câu “Sáng nay, ở trường, chúng em chào cờ” có ba dấu phẩy nhưng các phần không cùng loại (trạng ngữ thời gian, trạng ngữ nơi chốn, nòng cốt câu), nên không có phép liệt kê nào cả.
Liệt kê trong bài đọc hiểu và bài viết
Phép liệt kê là gì trong tiếng Việt, có khác nghĩa thường của từ “liệt kê” không?
Nghĩa thường của “liệt kê” là kể ra từng thứ, như liệt kê danh sách đồ cần mua. Khi là phép tu từ, việc kể ra ấy mang dụng ý nghệ thuật: tạo ấn tượng về sự nhiều, sự đầy đủ, hoặc làm nổi bật một cảm xúc. Cùng một hình thức, khác nhau ở mục đích.
Biện pháp liệt kê có tác dụng gì?
Nó giúp diễn tả đầy đủ nhiều mặt của sự vật, sự việc, làm câu văn cụ thể và giàu hình ảnh, tạo nhịp điệu. Khi trả lời, nên nói rõ chuỗi liệt kê làm nổi bật điều gì trong văn bản đang đọc, ví dụ sự xa hoa, sự vất vả, hay quyết tâm.
Liệt kê và điệp ngữ có dùng chung trong một câu được không?
Được, và khá thường gặp. Từ được lặp là điệp ngữ, còn các từ ngữ khác nhau đi sau từ lặp tạo thành chuỗi liệt kê. Bài làm nên nêu cả hai biện pháp.