Nghệ thuật truyền thống của người Việt là văn bản thông tin của học giả Nguyễn Văn Huyên, trích từ công trình Văn minh Việt Nam. Văn bản học ở Bài 8 (Thế giới đa dạng của thông tin) sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập hai. Bài viết tổng hợp những kiến thức cần nắm: nội dung văn bản, tiểu sử tác giả, xuất xứ, thể loại, mục đích, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Nghệ thuật truyền thống của người Việt
Văn bản trong SGK là bản dịch của Đỗ Trọng Quang (NXB Hội Nhà văn – Nhã Nam, 2018) nên Văn VN chỉ lược thuật ý chính theo trình tự và trích vài câu ngắn. Phần trả lời câu hỏi SGK (trang 78 – 83), em xem bài soạn bài Nghệ thuật truyền thống của người Việt.

Nghệ thuật – tấm gương của tâm hồn dân tộc. Văn bản mở đầu bằng nhận định: “Ở Việt Nam, nghệ thuật, hơn những lĩnh vực khác, là biểu hiện sâu sắc nhất của tâm tính nhân dân.” Người Việt có khiếu thẩm mĩ tinh tế. Dẫn lời Ca-đi-e-rơ (Cadière), một linh mục người Pháp,, tác giả cho thấy từ ngôi chùa nhỏ đến căn nhà thấp đều được trang trí chăm chút: mái, cột, bình phong mang màu sắc tươi mà vẫn hài hòa với cảnh vật; cột nhà đánh bóng hay sơn son thếp vàng; cửa, vách, đồ gỗ chạm khắc tinh xảo; đồ dùng thường ngày bằng kim loại, gỗ, tre cũng được nâng thành đồ mĩ nghệ; đồ trang sức đặc biệt tinh tế.
Những yếu tố chi phối nghệ thuật. Theo tác giả, “Nghệ thuật Việt trước hết mang tính chất tôn giáo.” Phật giáo, Đạo giáo cùng thế giới thần linh phong phú đã khơi nguồn sáng tạo; thời kì Phật giáo thịnh (thế kỉ VII – XIV) để lại nhiều công trình kiến trúc; sự hòa trộn tam giáo là gốc gác của phần lớn mô típ trang trí. Nho giáo đem đến vẻ uy nghiêm, gắn với cung điện, lăng mộ, vườn cảnh, bia đá của vua chúa, quan lại. Tiếc rằng vật liệu như gỗ, tre, đất nung không chịu nổi khí hậu nhiệt đới và mối mọt; kim loại thì mất mát vì hỏa hoạn, loạn lạc, chiến tranh. Các kinh đô xưa như Cổ Loa, Hoa Lư, Tây Đô hay Thăng Long hầu như chỉ còn dấu tích, dù vẫn có những minh chứng cho tài nghệ người xưa như cung điện, lăng tẩm Huế, Văn Miếu ở Hà Nội, đền Đô (thờ các vua nhà Lý) ở Đình Bảng, bia Lam Sơn, tượng Trấn Vũ, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp.
Thiên hướng sáng tạo. Nghệ sĩ Việt không cốt sao chép hiện thực hay ca ngợi vẻ đẹp thể xác mà hướng tới tinh thần, cố làm toát lên cái hồn vô hình của sự vật. Nhiều cây cối, con vật mang nghĩa tượng trưng: hạc, nai cho sự trường thọ, tre cho đạo đức, cúc cho hạnh phúc. Tranh dân gian đề cao lao động, chữ hiếu, đức hạnh. Các mô típ được cách điệu theo khuôn mẫu ước lệ, nhưng người tài vẫn thổi vào đó sức sống và chiều sâu riêng.
Kiến trúc – ngành tiêu biểu nhất. Tác giả viết: “Có thể nói, nghệ thuật Việt Nam tiêu biểu nhất vẫn là kiến trúc.” Kiến trúc chủ yếu phục vụ tôn giáo, chú trọng khối và chiều ngang, ưa sự cân đối, đều đặn, gợi vẻ lớn lao và huyền bí. Đền chùa có sân rộng cho đám đông, đám rước, cỗ bàn ngày lễ Tết; dãy sân và nhà nối tiếp gợi con đường dẫn tới cõi thiêng. Khung gỗ lớn, mái thấp và nặng để chống gió mưa, đè lên hàng cột được làm công phu nhất, các góc mái cong lên cho đỡ nặng nề. Lăng mộ cũng được xây cẩn trọng vì người Việt coi trọng thờ cúng tổ tiên; lăng các vua triều Nguyễn bên sông Hương là những quần thể kiến trúc giữa vườn cảnh tuyệt đẹp.
Điêu khắc và đúc đồng. “Tất cả các nghệ thuật khác đều phụ thuộc vào kiến trúc.” Nổi bật là điêu khắc gỗ với những tượng đẹp từ thời Lê và các kiệt tác ở chùa Tây Phương, chùa Keo, chùa Bút Tháp, chùa Côi. Đá hiếm nên ít dùng tạc tượng, chủ yếu làm bia, bậc thềm, lan can, tượng quan hầu trước lăng mộ. Nghề đúc đồng phát triển rất sớm, để lại trống đồng cổ, vạc đồng ở Huế, tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh.
Thông tin tác giả Nguyễn Văn Huyên
Nguyễn Văn Huyên (16/11/1905 – 19/10/1975) quê ở làng Lai Xá, huyện Hoài Đức (nay thuộc Hà Nội), là nhà sử học, nhà dân tộc học, nhà nghiên cứu văn hóa và nhà giáo dục lớn của Việt Nam. Năm 18 tuổi, ông sang Pháp du học, lấy bằng cử nhân văn khoa (1929) và cử nhân luật (1931) tại Đại học Xoóc-bon (Sorbonne). Năm 1934, ông là người Việt Nam đầu tiên bảo vệ thành công luận án tiến sĩ văn khoa tại đây, với đề tài về lối hát đối đáp nam nữ thanh niên ở Việt Nam và một luận án phụ về nhà sàn Đông Nam Á.
Năm 1935, ông về nước, dạy học ở Trường Bưởi, tham gia Hội Truyền bá chữ quốc ngữ, rồi làm việc tại Trường Viễn Đông Bác cổ, ủy viên Hội đồng nghiên cứu khoa học Đông Dương. Sau Cách mạng tháng Tám, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Quốc gia Giáo dục từ tháng 11 năm 1946 cho đến khi qua đời năm 1975 – vị Bộ trưởng Giáo dục tại vị lâu nhất của nước ta. Năm 2000, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh.
Các công trình tiêu biểu: Văn minh Việt Nam (1944), Sự thờ phụng thần thánh ở nước Nam (1944), cùng nhiều nghiên cứu về văn hóa, dân tộc học và giáo dục, sau này được tập hợp trong Toàn tập Nguyễn Văn Huyên (2000). Các công trình của ông vừa có tư liệu phong phú, vừa thể hiện niềm tự hào về văn hóa dân tộc.
Thông tin tác phẩm Nghệ thuật truyền thống của người Việt
Xuất xứ văn bản Nghệ thuật truyền thống của người Việt
Văn bản trích từ phần 3, chương 12 (nguyên có tên Nghệ thuật) của cuốn Văn minh Việt Nam. Đây là công trình chuyên khảo viết bằng tiếng Pháp (La civilisation annamite), hoàn thành năm 1939, xuất bản tại Hà Nội năm 1944, được dịch sang tiếng Việt năm 1996. SGK dẫn theo bản dịch của Đỗ Trọng Quang, NXB Hội Nhà văn – Công ti Văn hóa và Truyền thông Nhã Nam, 2018 (tr. 303 – 307). Nhan đề Nghệ thuật truyền thống của người Việt do người biên soạn SGK đặt.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản thông tin (giới thiệu các ngành nghệ thuật truyền thống và đặc điểm của chúng).
- Phương thức biểu đạt chính: thuyết minh, kết hợp miêu tả (các công trình, đồ vật), biểu cảm (sự trân trọng, tự hào) và nghị luận (nhận định về tâm tính dân tộc).
Mục đích của văn bản
Qua văn bản và những thông tin về cuốn Văn minh Việt Nam, có thể thấy tác giả muốn giới thiệu với thế giới (trước hết là độc giả nói tiếng Pháp) diện mạo của nghệ thuật truyền thống Việt Nam, qua đó khẳng định người Việt có một nền văn hóa riêng, tinh tế và sâu sắc. Đó cũng là tiếng nói đầy tinh thần tự tôn dân tộc trong bối cảnh thuộc địa.
Bố cục – Nghệ thuật truyền thống của người Việt có mấy phần?
Văn bản chia làm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “trở thành độc đáo”): tâm tính nhân dân thể hiện trong nghệ thuật – khiếu thẩm mĩ, các yếu tố tôn giáo, Nho giáo chi phối, việc bảo tồn di sản, thiên hướng sáng tạo.
- Phần 2 (tiếp theo đến “thẩm mĩ tuyệt vời”): kiến trúc – ngành nghệ thuật tiêu biểu nhất (đền chùa, lăng mộ).
- Phần 3 (còn lại): các ngành phụ thuộc kiến trúc – điêu khắc gỗ, đá và nghệ thuật đúc đồng.
Giá trị nội dung
Văn bản cung cấp hiểu biết hệ thống về nghệ thuật truyền thống của người Việt: những yếu tố chi phối (tôn giáo, Nho giáo, điều kiện tự nhiên), thiên hướng thiên về tinh thần, tính tượng trưng, cách điệu và các ngành tiêu biểu (kiến trúc, điêu khắc, đúc đồng). Qua đó, tác giả khẳng định nghệ thuật là nơi thể hiện sâu sắc tâm hồn, tính cách dân tộc, bày tỏ niềm tự hào và ý thức trân trọng, gìn giữ di sản cha ông.
Giá trị nghệ thuật
- Thông tin phong phú, xác thực, có dẫn chứng cụ thể (tên công trình, địa danh, triều đại) và trích dẫn ý kiến học giả nước ngoài.
- Bố cục rõ ràng, đi từ khái quát (tâm tính dân tộc) đến cụ thể (từng ngành nghệ thuật).
- Kết hợp nhuần nhuyễn thuyết minh với miêu tả, biểu cảm, nghị luận, giúp văn bản sinh động và thuyết phục.
- Giọng văn khách quan của nhà khoa học nhưng vẫn thấm đượm tình cảm với văn hóa dân tộc.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề nêu rõ đối tượng (nghệ thuật), phạm vi (truyền thống) và chủ thể sáng tạo (người Việt). Cách đặt tên ngắn gọn giúp người đọc hình dung ngay nội dung văn bản: giới thiệu những ngành nghệ thuật lâu đời, qua đó soi chiếu tâm hồn và bản sắc của dân tộc.
Tóm tắt nội dung văn bản
Văn bản cho rằng nghệ thuật là nơi thể hiện sâu sắc nhất tâm tính người Việt, một dân tộc có khiếu thẩm mĩ tinh tế. Nghệ thuật Việt chịu chi phối của tôn giáo và Nho giáo, hướng tới cái hồn của sự vật, giàu tính tượng trưng và cách điệu; nhiều di sản đã mất vì vật liệu kém bền và chiến tranh. Kiến trúc là ngành tiêu biểu nhất, các ngành khác như điêu khắc gỗ, đá, đúc đồng đều gắn với kiến trúc và để lại nhiều tác phẩm giá trị.
Sơ đồ tư duy Nghệ thuật truyền thống của người Việt
Sơ đồ dưới đây giúp em ôn nhanh các ý trọng tâm.

Lời kết
Khi ôn tập Nghệ thuật truyền thống của người Việt, em cần nhớ: tác giả Nguyễn Văn Huyên (1905 – 1975), nhà văn hóa, nhà giáo dục lớn; văn bản trích Văn minh Việt Nam (viết bằng tiếng Pháp, xuất bản 1944); thể loại văn bản thông tin; bố cục 3 phần; nghệ thuật Việt mang tính tôn giáo, thiên về tinh thần, kiến trúc là ngành tiêu biểu nhất.
Xem thêm:
- Soạn bài Nghệ thuật truyền thống của người Việt (Kết nối tri thức 10)
- Soạn bài Sự sống và cái chết (Trịnh Xuân Thuận)
- Soạn bài Phục hồi tầng ozone: Thành công hiếm hoi của nỗ lực toàn cầu