Tóm tắt Nghệ thuật truyền thống của người Việt giúp em nắm nhanh các thông tin chính trong văn bản của học giả Nguyễn Văn Huyên, trích công trình Văn minh Việt Nam. Văn bản thuộc Bài 8 sách Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập hai; câu 2 phần Sau khi đọc (trang 83) yêu cầu em vẽ sơ đồ tóm tắt các thông tin chính. Dưới đây là 6 mẫu tóm tắt ngắn, dài, theo bố cục và dạng sơ đồ ý.

Sơ đồ tư duy tóm tắt Nghệ thuật truyền thống của người Việt
Khung thông tin cần nhớ: nghệ thuật phản chiếu tâm tính dân tộc – các yếu tố chi phối (tôn giáo, Nho giáo, khí hậu, chiến tranh) – thiên hướng tinh thần, tượng trưng, cách điệu – kiến trúc đền chùa, lăng mộ – điêu khắc gỗ, đá, đúc đồng.

Tóm tắt Nghệ thuật truyền thống của người Việt ngắn nhất – mẫu 1
Nguyễn Văn Huyên cho rằng nghệ thuật phản ánh rõ nhất tâm hồn người Việt – một dân tộc ưa cái đẹp, cái thanh. Nghệ thuật ấy mang đậm màu sắc tôn giáo, coi trọng tinh thần hơn hình thức; kiến trúc giữ vị trí hàng đầu, kéo theo điêu khắc gỗ, đá và nghề đúc đồng.
Tóm tắt Nghệ thuật truyền thống của người Việt trong một đoạn văn – mẫu 2
Văn bản khẳng định nghệ thuật là tấm gương phản chiếu sâu sắc tính cách người Việt, những người biết làm đẹp cho cả mái chùa, căn nhà lẫn món đồ dùng nhỏ. Nghệ thuật Việt trước hết phục vụ tín ngưỡng: Phật giáo, Đạo giáo và sự giao thoa tam giáo cung cấp hầu hết đề tài trang trí, còn Nho giáo tạo nên vẻ trang nghiêm cho cung điện, lăng tẩm. Do vật liệu dễ hỏng trong khí hậu nóng ẩm, lại qua nhiều biến cố, phần lớn di sản cổ đã mất, nhưng những công trình còn lại vẫn chứng tỏ tay nghề cao của nghệ nhân. Người nghệ sĩ không chú trọng tả thực mà tìm cái hồn của sự vật, dùng hình tượng mang ý nghĩa tượng trưng và cách điệu. Kiến trúc là đỉnh cao, đặc biệt là đền chùa và lăng mộ; điêu khắc gỗ, đá và đúc đồng đều gắn bó với kiến trúc, để lại nhiều kiệt tác.
Tóm tắt Nghệ thuật truyền thống của người Việt theo bố cục – mẫu 3
Phần 1 – Tâm tính dân tộc trong nghệ thuật. Người Việt có con mắt thẩm mĩ tinh tế, thể hiện qua cách trang trí nhà cửa, đình chùa, đồ mĩ nghệ, trang sức. Nghệ thuật chịu ảnh hưởng của tôn giáo và Nho giáo; nhiều công trình đã mất vì vật liệu không bền, hỏa hoạn, chiến tranh. Nghệ sĩ đề cao tinh thần, dùng biểu tượng (hạc, nai, tre, cúc…) và cách điệu nhưng vẫn tạo được dấu ấn riêng.
Phần 2 – Kiến trúc. Đây là ngành tiêu biểu nhất, chủ yếu mang tính tôn giáo; ưa khối, chiều ngang, sự cân đối. Đền chùa có sân rộng, nhiều lớp nhà nối tiếp, khung gỗ lớn, mái thấp nặng đặt trên những hàng cột được làm kĩ, góc mái cong nhẹ; gỗ và gạch như được tinh thần hóa bằng các mô típ chạm khắc. Lăng mộ, nhất là lăng các vua Nguyễn ở Huế, là quần thể kiến trúc đẹp hài hòa với vườn cảnh.
Phần 3 – Điêu khắc và đúc đồng. Tượng gỗ đẹp nhất còn giữ được ở những ngôi chùa cổ như Tây Phương (Sơn Tây), chùa Keo (Thái Bình), Bút Tháp (Bắc Ninh). Đá ít dùng, chủ yếu làm bia, bậc thềm, tượng trước lăng mộ. Nghề đúc đồng có từ rất sớm, để lại những chiếc trống đồng cổ cùng các vạc lớn nơi kinh thành Huế, pho tượng thờ ở đền Quán Thánh.
Tóm tắt các thông tin chính dạng sơ đồ ý – mẫu 4
- Nhận định chung: nghệ thuật = biểu hiện sâu sắc nhất tâm tính người Việt; khiếu thẩm mĩ tinh tế.
- Yếu tố ảnh hưởng: tôn giáo (Phật, Đạo, tam giáo) → mô típ trang trí; Nho giáo → vẻ uy nghi; khí hậu, mối mọt, chiến tranh → di sản khó bảo tồn.
- Thiên hướng sáng tạo: coi trọng tinh thần → biểu tượng, cách điệu, ước lệ → vẫn có chiều sâu và nét độc đáo.
- Kiến trúc: tiêu biểu nhất → đền chùa (khối, chiều ngang, đối xứng, sân rộng, mái thấp, cột chắc) → lăng mộ (lăng vua Nguyễn ở Huế).
- Điêu khắc, đúc đồng: phụ thuộc kiến trúc → tượng gỗ ở các chùa nổi tiếng → đá làm bia, bậc → đồng: trống đồng, vạc đồng, tượng Trấn Vũ.
Tóm tắt Nghệ thuật truyền thống của người Việt chi tiết – mẫu 5
Mở đầu văn bản, Nguyễn Văn Huyên nêu nhận định: nghệ thuật là lĩnh vực phản ánh sâu sắc hơn cả tâm hồn, tính cách người Việt. Dân tộc ta có óc thẩm mĩ vững vàng và tinh tế. Dẫn lời một linh mục người Pháp, ông cho thấy những ngôi chùa nhỏ, những ngôi nhà thấp đều được trang trí kĩ lưỡng: màu sắc mái, cột, bình phong tươi tắn mà hòa với thiên nhiên; cột nhà bóng loáng hay sơn son thếp vàng; cửa, xà, đồ gỗ chạm trổ tinh vi; đồ vật thông thường được biến thành đồ mĩ nghệ; nữ trang chế tác cực kì khéo léo.
Theo tác giả, nghệ thuật Việt trước hết gắn với tôn giáo. Phật giáo, Đạo giáo với vô vàn thần thánh là động lực sáng tạo; suốt bảy thế kỉ Phật giáo thịnh vượng (thế kỉ VII – XIV) đã để lại nhiều công trình; tam giáo hòa trộn là nguồn của hầu hết mô típ trang trí. Nho giáo đem lại vẻ trang nghiêm, phục vụ niềm kiêu hãnh của vua quan qua cung điện, lăng mộ, vườn hoa, bia đá. Đáng tiếc, gỗ, tre, đất nung không bền trong khí hậu nhiệt đới, kim loại cũng không qua nổi hỏa hoạn và chiến tranh, nên các kinh đô xưa hầu như chỉ còn nền cũ. Dù vậy, cung điện và lăng tẩm Huế, Văn Miếu, chùa Phật Tích, chùa Bút Tháp… vẫn chứng minh trình độ kĩ thuật cao.
Nghệ sĩ Việt không cố tái hiện đúng hiện thực, không tôn vinh vẻ đẹp thể xác mà tìm cách làm hiện lên tinh thần ẩn sâu trong sự vật. Cây cối, con vật mang ý nghĩa biểu tượng; tranh dân gian ca ngợi lao động, hiếu thảo, đạo đức. Các đề tài được cách điệu theo quy ước, nhưng người tài vẫn thổi vào đó sức mạnh nội tại, làm nên nét riêng.
Kiến trúc là ngành tiêu biểu nhất, người vẽ tranh, người tạc tượng chỉ giữ vai trò hỗ trợ. Kiến trúc thiên về khối và chiều ngang, ưa cân xứng, gợi sự lớn lao, bí ẩn. Đền chùa cần không gian rộng cho lễ hội, đám rước, cỗ bàn; các lớp sân và nhà nối nhau như dẫn vào cõi linh thiêng. Khung gỗ chắc, mái thấp và nặng chống gió mưa, các cột được làm cẩn thận nhất, góc mái uốn cong cho thanh thoát. Lăng mộ được xây dựng công phu vì tục thờ cúng tổ tiên; lăng các vua triều Nguyễn bên sông Hương là những quần thể đẹp giữa vườn cảnh.
Các nghệ thuật khác lệ thuộc kiến trúc. Điêu khắc gỗ có những pho tượng đẹp thời Lê và nhiều kiệt tác ở các chùa Tây Phương, Keo, Bút Tháp, Côi. Đá hiếm nên chủ yếu dùng làm bia, bậc thềm, tay vịn và tượng quan đứng chầu trước lăng. Nghề đúc đồng xuất hiện từ rất sớm với trống đồng ở Bắc Bộ, bắc Trung Bộ và các tác phẩm lớn như vạc đồng ở Huế, tượng Trấn Vũ ở đền Quán Thánh.
Tóm tắt Nghệ thuật truyền thống của người Việt để thuyết trình – mẫu 6
Đọc văn bản của Nguyễn Văn Huyên, ta như được dẫn qua một phòng trưng bày nghệ thuật Việt. Ở gian đầu là cái nhìn chung: người Việt yêu cái đẹp, khéo trang trí từ ngôi chùa đến chiếc trâm cài; nghệ thuật của họ gắn với tín ngưỡng, thấm tinh thần Nho giáo, và tiếc thay nhiều báu vật đã bị thời gian, chiến tranh xóa mất. Gian thứ hai dành cho kiến trúc – niềm tự hào lớn nhất – với đền chùa trầm mặc, mái thấp cong vút, lăng tẩm uy nghi bên dòng Hương. Gian cuối là tượng gỗ chùa Tây Phương, những tấm bia đá và các tác phẩm đồng đồ sộ. Tất cả cùng nói lên một điều: nghệ thuật truyền thống là nơi lưu giữ tâm hồn dân tộc.
Kết luận
Khi tóm tắt Nghệ thuật truyền thống của người Việt, em nên đi từ nhận định khái quát về tâm tính dân tộc đến từng ngành cụ thể (kiến trúc, điêu khắc, đúc đồng). Mẫu 4 có thể chuyển ngay thành sơ đồ để làm câu 2 phần Sau khi đọc trong SGK.
Xem thêm:
- Soạn bài Nghệ thuật truyền thống của người Việt (Kết nối tri thức 10)
- Soạn bài Sự sống và cái chết (Trịnh Xuân Thuận)
- Soạn bài Phục hồi tầng ozone: Thành công hiếm hoi của nỗ lực toàn cầu