Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng là văn bản nghị luận văn học của nhà nghiên cứu Trần Thị Hoa Lê, văn bản đọc thứ ba trong Bài 4 (Tiếng cười trào phúng trong thơ), sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức tập một (trang 88 – 91). Đây là văn bản cung cấp công cụ lí thuyết giúp em đọc hai bài thơ trước đó trong cùng bài học. Bài viết dưới đây tổng hợp nội dung văn bản, thông tin tác giả, xuất xứ, luận đề – luận điểm, bố cục, giá trị nội dung, nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng
Văn bản đăng năm 2022 và vẫn còn được bảo hộ bản quyền, vì vậy Văn VN chỉ tóm lược mạch lập luận, trích vài câu then chốt. Phần trả lời câu hỏi SGK em xem ở bài soạn bài Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng.

Đặt vấn đề. Mở đầu, tác giả xếp thơ trào phúng vào một mảng sáng tác văn học mang tính đặc thù, hướng vào những gì chưa trọn vẹn, chưa hoàn thiện ở con người và đời sống. Thứ vũ khí mà dòng thơ này dùng để chống lại cái khiếm khuyết ấy chính là tiếng cười: “Phương tiện đặc sắc mà thơ trào phúng sử dụng để chống lại cái bất toàn ấy là tiếng cười với nhiều giọng điệu khác nhau.” Văn bản nêu ba giọng điệu cơ bản: hài hước; mỉa mai – châm biếm; đả kích.
Giọng hài hước. “Hài hước là cách đùa cợt nhẹ nhàng cùng những yếu tố khác lạ phóng túng, phá vỡ các khuôn khổ quen thuộc.” Dẫn chứng là bài “Tự trào I” của Phạm Thái: nhà thơ tự vẽ chân dung một nho sĩ có tài mà lỡ vận, ngày tháng chỉ biết vui với thơ phú, nghề dạy học, nét vẽ và chén rượu. Những cặp từ đối nhau theo lối giễu cợt đã biến nỗi buồn thời thế thành tiếng cười tự chế giễu mình.
Giọng mỉa mai – châm biếm. Giọng điệu này dựng lên những điều phi lí, đảo ngược trật tự thường ngày để phê phán những thói hư như tự cao, khoe khoang, giả nhân giả nghĩa, bủn xỉn. Bài “Hỏi thăm quan tuần mất cướp” của Nguyễn Khuyến cười một vị quan đầu tỉnh – lẽ ra phải dẹp trộm cướp – lại bị kẻ cướp đánh, qua đó chê lớp quan vừa giàu vừa bủn xỉn, quyền to mà không giữ nổi thân. Tác giả gọi đây là lối “chế nhạo ngầm, đeo mặt nạ nghiêm trang”: khen để chê, đề cao để hạ thấp. Bài “Nha lệ thương dân” của Kép Trà dùng cách nói ngược, giả như ca ngợi bọn nha lệ “thương dân” mùa lũ lụt, nhưng thực chất vạch trần chuyện chúng lợi dụng thiên tai để vơ vét người nghèo.
Giọng đả kích. “Đả kích là một cấp độ khác của tiếng cười trào phúng”, thường phủ nhận đối tượng một cách gay gắt, có khi dùng lời lẽ suồng sã như mắng chửi để cảnh tỉnh sự sa sút đạo đức. Dẫn chứng là bài “Đất Vị Hoàng” của Trần Tế Xương: câu mở đầu và câu kết lặp lại nguyên văn – “Có đất nào như đất ấy không?” – tạo thành một vòng luẩn quẩn, phơi bày cảnh gia đình mất tôn ti, xã hội chạy theo đồng tiền. Tác giả cũng lưu ý giọng đả kích quá thô mộc có thể khiến người đọc tiếp nhận theo chiều ngược lại.
Kết luận. Tiếng cười trong văn chương, nhất là thơ trào phúng, muôn màu như chính đời sống: “Tiếng cười ấy thật cần thiết để đẩy lùi cái xấu, hướng mỗi con người đến những giá trị cao đẹp hơn.”
Thông tin tác giả Trần Thị Hoa Lê
Theo chú thích SGK, Trần Thị Hoa Lê sinh năm 1968 tại Ninh Bình, là giảng viên đại học, nhà nghiên cứu văn học. Các công trình chính của bà gồm Giáo trình Văn học trung đại Việt Nam, tập 2 (2015, viết chung) và Văn học trào phúng Việt Nam thời trung đại (2017).
Hướng nghiên cứu chính của bà là văn học trào phúng Việt Nam thời trung đại; các vấn đề khuynh hướng, thể loại, ngôn ngữ, phong cách tác giả trong văn học trung đại; mối quan hệ giữa văn học và văn hóa thời kì này. Bà có chuyên luận về văn học trào phúng Việt Nam thời trung đại và tham gia biên soạn giáo trình về văn học trung đại cho sinh viên các trường sư phạm.
Vì nhiều năm chuyên sâu về thơ cười của ông cha, bài viết của bà vừa có tính khái quát của người làm lí luận, vừa chọn được những dẫn chứng tiêu biểu, dễ hiểu với học sinh: Phạm Thái, Nguyễn Khuyến, Kép Trà, Tú Xương.
Thông tin tác phẩm Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng
Xuất xứ văn bản
Văn bản được in trên tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, số tháng 9/2022; SGK trích lại có điều chỉnh.
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản nghị luận (nghị luận văn học).
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận, kết hợp thuyết minh (giải thích khái niệm từng giọng điệu).
Luận đề và hệ thống luận điểm
Luận đề: tiếng cười – phương tiện đặc sắc của thơ trào phúng – có nhiều giọng điệu; tiêu biểu nhất có ba giọng: hài hước, mỉa mai – châm biếm và đả kích.
| Luận điểm | Lí lẽ chính | Bằng chứng |
|---|---|---|
| Giọng hài hước | Đùa vui nhẹ nhàng, phóng túng, vượt khuôn khổ; thường gắn với tự trào | Tự trào I (Phạm Thái) |
| Giọng mỉa mai – châm biếm | Tạo cái phi lí, nói ngược; khen để chê, đề cao để hạ thấp | Hỏi thăm quan tuần mất cướp (Nguyễn Khuyến); Nha lệ thương dân (Kép Trà) |
| Giọng đả kích | Phủ nhận gay gắt, lời lẽ quyết liệt, suồng sã nhằm cảnh tỉnh | Đất Vị Hoàng (Trần Tế Xương) |
Bố cục – văn bản có mấy phần?
Văn bản gồm 3 phần:
- Phần 1 (đoạn mở đầu, đến chỗ liệt kê ba giọng điệu): giới thiệu thơ trào phúng và nêu các giọng điệu cơ bản của tiếng cười.
- Phần 2 (các đoạn tiếp theo, đến lời lưu ý về cách độc giả tiếp nhận giọng đả kích): lần lượt phân tích từng giọng điệu kèm dẫn chứng.
- Phần 3 (đoạn cuối): khẳng định sự phong phú và vai trò của tiếng cười trong thơ trào phúng.
Đặc điểm nghị luận của văn bản
- Mỗi giọng điệu được trình bày theo cùng một trình tự: định nghĩa – dẫn chứng (trích thơ) – phân tích dẫn chứng.
- Các luận điểm sắp xếp theo mức độ tăng dần của tiếng cười: từ nhẹ nhàng (hài hước) đến sâu cay (châm biếm) và gay gắt (đả kích).
- Bằng chứng là những bài thơ trung đại, cận đại quen thuộc, được trích nguyên văn rồi phân tích từ ngữ, hình ảnh, kết cấu.
Giá trị nội dung
Văn bản giúp người đọc hiểu thơ trào phúng là gì, tiếng cười trong thơ trào phúng có những giọng điệu nào và nhận biết từng giọng điệu ra sao. Qua đó, tác giả khẳng định ý nghĩa nhân văn của tiếng cười: phê phán cái xấu, thanh lọc con người, hướng tới cái đẹp.
Giá trị nghệ thuật
- Luận điểm rõ, sắp xếp mạch lạc, có tính hệ thống.
- Lí lẽ chặt chẽ; khái niệm được giải thích ngắn gọn, dễ hiểu.
- Dẫn chứng tiêu biểu, phân tích cụ thể, thuyết phục.
- Ngôn ngữ khoa học nhưng sinh động, có những cách nói hình ảnh (tiếng cười đeo mặt nạ nghiêm trang, vòng xoay bế tắc).
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề nêu thẳng đối tượng bàn luận – giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng. Hai chữ một số cho thấy cách viết khiêm tốn, khoa học: tác giả chỉ đề cập những giọng điệu cơ bản, không khẳng định đã bao quát hết, mở ra khả năng người đọc tự phát hiện thêm sắc thái khác.
Vận dụng: nhận biết giọng điệu trong Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu và Lai Tân
Câu hỏi cuối bài yêu cầu áp dụng văn bản để đọc hai bài thơ đầu Bài 4. Các tài liệu đều thống nhất cả hai bài kết hợp giọng mỉa mai – châm biếm với đả kích. Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu của Tú Xương mỉa mai cảnh trường thi lôi thôi, nhố nhăng và đả kích sự lố lăng của quan Tây, bà đầm giữa chốn thi cử; Lai Tân của Hồ Chí Minh dùng giọng kể điềm tĩnh, khách quan để châm biếm bộ máy cai trị thối nát, câu kết như khen cảnh yên ổn mà thực chất là lời mỉa sâu cay.
Sơ đồ tư duy Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng
Sơ đồ dưới đây tóm lược luận đề, luận điểm và giá trị của văn bản.

Lời kết
Khi ôn tập, em cần nhớ: tác giả Trần Thị Hoa Lê là nhà nghiên cứu văn học trung đại; văn bản đăng trên tạp chí Văn học và Tuổi trẻ năm 2022; luận đề xoay quanh ba giọng điệu hài hước – mỉa mai, châm biếm – đả kích, mỗi giọng có định nghĩa và dẫn chứng thơ riêng. Nắm chắc văn bản này, em sẽ dễ dàng viết bài phân tích một bài thơ trào phúng ở phần Viết của Bài 4.
Xem thêm:
- Soạn bài Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng
- Soạn bài Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu
- Soạn bài Lai Tân
- Đất Vị Hoàng (Trần Tế Xương) – tác giả, tác phẩm
- Viết bài văn phân tích một tác phẩm văn học (thơ trào phúng)