Chuyện cổ nước mình của Lâm Thị Mỹ Dạ là bài thơ lục bát được học ở hai bộ sách lớp 6: Bài 4 “Quê hương yêu dấu” sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức và Bài 2 “Miền cổ tích” (đọc mở rộng theo thể loại) sách Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo. Bài viết tổng hợp nội dung văn bản, thông tin tác giả, xuất xứ, thể thơ, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Chuyện cổ nước mình
Lâm Thị Mỹ Dạ mất năm 2023, thơ của bà còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền, vì vậy ở đây chỉ trích vài dòng và tóm lược mạch bài thơ; em đọc toàn văn trong SGK.

Bài thơ là lời của nhân vật “tôi” – một người lớn lên cùng những câu chuyện cổ. Mở đầu, “tôi” nói lên lòng yêu mến dành cho truyện cổ quê hương và giải thích lí do: chuyện cổ “Vừa nhân hậu lại tuyệt vời sâu xa / Thương người rồi mới thương ta / Yêu nhau dù mấy cách xa cũng tìm”. Trong đó có lẽ sống ở hiền gặp lành, người ngay được thần tiên phù trợ.
Tiếp theo, “tôi” kể rằng mình mang chuyện cổ theo suốt hành trình cuộc đời, nghe trong cuộc sống hôm nay vẫn vọng về tiếng xưa. Giữa thế hệ hôm nay và thế hệ ông cha là một khoảng cách rất xa – “Đời cha ông với đời tôi / Như con sông với chân trời đã xa” – và chính chuyện cổ là nhịp cầu giúp con cháu nhận ra gương mặt tổ tiên.
Phần sau của bài thơ nhắc đến những câu chuyện quen thuộc: cô Tấm từ quả thị bước ra, người thợ đẽo cày nghe ai cũng làm theo – “Đẽo cày theo ý người ta / Sẽ thành khúc gỗ chẳng ra việc gì” – và sự tích trầu cau đậm nghĩa tình. Từ đó, “tôi” nhận ra lời ông cha gửi gắm vì con cháu đời sau. Khép lại, nhà thơ tin rằng những câu chuyện dù có từ rất xưa vẫn luôn mới mẻ và soi sáng lương tâm con người.
Thông tin tác giả Lâm Thị Mỹ Dạ
Lâm Thị Mỹ Dạ (18/9/1949 – 6/7/2023) quê ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình – vùng đất tuyến lửa trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Bà từng làm cán bộ Ty Văn hóa Quảng Bình, sau đó học Trường Viết văn Nguyễn Du (1978 – 1983) rồi gắn bó lâu dài với Huế, làm phóng viên, biên tập viên Tạp chí Sông Hương.
Tên tuổi của bà được biết đến từ đầu thập niên 1970, khi chùm thơ có bài “Khoảng trời, hố bom” đoạt giải nhất cuộc thi thơ của báo Văn nghệ (1972 – 1973). Các tập thơ tiêu biểu: Trái tim sinh nở (1974), Bài thơ không năm tháng (1983), Hái tuổi em đầy tay, Đề tặng một giấc mơ… Bà còn viết nhiều cho thiếu nhi như tập thơ Mẹ và con, các truyện Danh ca của đất, Nai con và dòng suối… Năm 2007, bà được tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật.
Thơ Lâm Thị Mỹ Dạ dịu dàng, giàu nữ tính, cho thấy một tâm hồn nhạy cảm và nhân hậu. Bà biết biến những điều giản dị, quen thuộc thành hình ảnh thơ sâu lắng. Xem thêm tuyển tập thơ Lâm Thị Mỹ Dạ.
Thông tin tác phẩm Chuyện cổ nước mình
Các mục dưới đây giải đáp những câu hỏi thường gặp khi tìm hiểu bài thơ.
Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác
Bài thơ vốn mang tên Truyện cổ nước mình, từng quen thuộc với nhiều thế hệ học sinh tiểu học. Khi đưa vào SGK Ngữ văn 6, bài thơ được in với nhan đề Chuyện cổ nước mình. Nhiều tài liệu hướng dẫn học ghi bài thơ được sáng tác năm 1979; em nên đối chiếu thêm phần chú thích trong SGK của bộ sách mình học.
Thể thơ, phương thức biểu đạt
- Thể thơ: lục bát – các cặp câu sáu chữ và tám chữ xen nhau, gieo vần bằng, nhịp chẵn.
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm, kết hợp tự sự (nhắc lại các tích truyện).
- Nhân vật trữ tình: “tôi” – người yêu và trân trọng chuyện cổ của dân tộc.
Bố cục: Chuyện cổ nước mình có mấy phần?
Bài thơ có thể chia làm 2 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến hai dòng thơ ca ngợi phẩm chất của chuyện cổ, kết thúc bằng chữ “đa mang”): tình yêu của tác giả với chuyện cổ; ca ngợi lòng nhân hậu, lẽ ở hiền gặp lành và vai trò nối kết các thế hệ của chuyện cổ.
- Phần 2 (còn lại): những bài học ông cha gửi lại qua các câu chuyện cổ cụ thể và sức sống bền lâu của chuyện cổ.
Một số tài liệu chia chi tiết hơn thành 3 – 4 đoạn theo từng ý; cách chia nào cũng cần chỉ ra mạch: yêu chuyện cổ – chuyện cổ là cầu nối với ông cha – bài học từ chuyện cổ.
Các câu chuyện cổ được nhắc đến trong bài
- Tấm Cám: qua hình ảnh quả thị thơm và lời khuyên chăm làm thì có cơm ăn áo mặc.
- Đẽo cày giữa đường: bài học phải có chủ kiến, không nghe theo ý mọi người một cách mù quáng.
- Sự tích trầu cau: miếng trầu cau tượng trưng cho tình nghĩa anh em, vợ chồng sâu nặng.
- Ngoài ra, những ý thơ về ở hiền gặp lành, thương người như thể thương thân gợi đến nhiều truyện cổ tích khác như Thạch Sanh, Cây khế, Sọ Dừa.
Giá trị nội dung
Bài thơ là lời ngợi ca gia tài truyện cổ của dân tộc: những câu chuyện giàu lòng nhân ái, đầy trí tuệ, gói ghém bao điều ông cha đã đúc rút từ cuộc sống. Qua đó, tác giả bày tỏ tình yêu quê hương, niềm tự hào về di sản tinh thần mà cha ông để lại và lời nhắc con cháu hôm nay biết gìn giữ, tiếp nối.
Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ lục bát nhịp nhàng, mang âm hưởng ca dao, dân ca.
- Hình ảnh thơ gần gũi, gợi nhắc khéo léo các tích truyện quen thuộc.
- Phép so sánh độc đáo lấy hình ảnh dòng sông và chân trời để nói khoảng cách giữa hai thế hệ, cùng phép đối và điệp từ.
- Giọng thơ tâm tình, sâu lắng như lời kể chuyện của bà, của mẹ.
Ý nghĩa nhan đề Chuyện cổ nước mình
Hai chữ “nước mình” thân thương cho thấy đây không phải chuyện cổ của ai xa lạ mà là của chính dân tộc mình, của ông bà cha mẹ mình. Nhan đề vừa giới thiệu đề tài vừa bộc lộ niềm tự hào, tình cảm gắn bó của tác giả với di sản tinh thần ấy.
Sơ đồ tư duy Chuyện cổ nước mình
Sơ đồ dưới đây tóm tắt những ý chính cần nhớ.

Lời kết
Chuyện cổ nước mình là lời tri ân dịu dàng gửi tới kho tàng truyện cổ dân gian. Đọc bài thơ, em thêm yêu những câu chuyện bà kể ngày nhỏ và hiểu rằng mỗi câu chuyện cổ là một bài học làm người mà ông cha gửi lại.
Xem thêm:
- Soạn bài Chuyện cổ nước mình – Ngữ văn 6
- Chùm ca dao về quê hương đất nước: tác giả, tác phẩm
- Cây tre Việt Nam (Thép Mới): tác giả, tác phẩm