Phân tích Chùm ca dao về quê hương đất nước là đề văn quen thuộc khi học Bài 4 “Quê hương yêu dấu”, sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức. Ba bài ca dao ngắn vẽ nên ba miền quê: Thăng Long – Hồ Tây, xứ Lạng và xứ Huế, cùng chung một niềm tự hào về vẻ đẹp đất nước. Kiến thức chung về ca dao, thể lục bát và bố cục có ở bài tác giả, tác phẩm Chùm ca dao về quê hương đất nước.
Trên các trang học tập, văn mẫu cho văn bản này thường viết theo từng bài ca dao lẻ hoặc đoạn văn cảm nhận cả chùm. Vì vậy bài viết gồm dàn ý chung và 6 mẫu: phân tích cả chùm ngắn gọn, phân tích cả chùm đầy đủ, phân tích riêng từng bài 1, 2, 3 và đoạn văn cảm nhận. Ca dao là sáng tác dân gian nên được trích dẫn đầy đủ.
Văn bản Chùm ca dao về quê hương đất nước
Ba bài ca dao theo cách in trong SGK (ca dao có nhiều dị bản, khi làm bài em dùng đúng bản trong sách):

Bài 1
Gió đưa cành trúc la đà,
Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương.
Mịt mù khói tỏa ngàn sương,
Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.
Bài 2
Đường lên xứ Lạng bao xa?
Cách một trái núi với ba quãng đồng.
Ai ơi, đứng lại mà trông:
Kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ.
Bài 3
Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá,
Đò về Vĩ Dạ, thẳng ngã ba Sình.
Lờ đờ bóng ngả trăng chênh,
Tiếng hò xa vọng, nặng tình nước non.
Dàn ý phân tích Chùm ca dao về quê hương đất nước
Dàn ý dùng cho bài phân tích cả chùm; nếu đề chỉ yêu cầu một bài, em lấy phần tương ứng ở mục 2 và mở rộng.
1. Mở bài
– Giới thiệu ca dao – tiếng nói tâm hồn của người bình dân, trong đó có nhiều bài viết về quê hương.
– Giới thiệu chùm ba bài ca dao: ba bức tranh về ba miền quê, chung niềm tự hào về đất nước.
2. Thân bài
a. Bài 1: cảnh Thăng Long – Hồ Tây
+ Không gian rộng, nên thơ: gió, cành trúc, khói sương, mặt hồ như gương.
+ Âm thanh đặc trưng: tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương, nhịp chày Yên Thái.
+ Địa danh gắn với lịch sử, văn hóa kinh thành.
⇒ Thăng Long vừa thơ mộng vừa nhộn nhịp đời sống; niềm tự hào về đất kinh kì.
b. Bài 2: cảnh xứ Lạng
+ Câu hỏi mở đầu, lời đáp hóm hỉnh về đường đi.
+ Lời mời “Ai ơi, đứng lại mà trông”; điệp từ “kìa”, địa danh thành Lạng, sông Tam Cờ.
⇒ Xứ Lạng hùng vĩ, hữu tình; lời mời gọi đầy tự hào.
c. Bài 3: cảnh xứ Huế
+ Lục bát biến thể; điệp từ “đò”, chuỗi địa danh Đông Ba, Đập Đá, Vĩ Dạ, ngã ba Sình.
+ Cảnh đêm trăng, tiếng hò vọng xa.
⇒ Huế trữ tình, man mác; tình yêu quê hương sâu nặng.
d. Nghệ thuật chung
+ Thể lục bát và lục bát biến thể; ngôn ngữ giản dị.
+ Liệt kê địa danh; điệp từ; câu hỏi tu từ; hình ảnh, âm thanh đặc trưng.
3. Kết bài
– Khẳng định giá trị chùm ca dao.
– Liên hệ: tự hào, yêu mến, có ý thức gìn giữ vẻ đẹp quê hương.
Phân tích Chùm ca dao về quê hương đất nước ngắn gọn – mẫu 1
Ca dao là tiếng hát của tâm hồn người Việt, và tình yêu quê hương là một trong những chủ đề đẹp nhất của ca dao. Chùm ca dao về quê hương đất nước trong SGK Ngữ văn 6 gồm ba bài, mỗi bài là một bức tranh về một miền đất.
Bài thứ nhất đưa ta về Thăng Long xưa. Chỉ bốn câu thơ mà có đủ cảnh và âm thanh: cành trúc la đà trong gió, khói sương mịt mù, mặt nước Hồ Tây phẳng như gương, xen giữa là tiếng chuông Trấn Võ, tiếng gà Thọ Xương, nhịp chày Yên Thái. Kinh thành hiện lên vừa nên thơ vừa đầm ấm sự sống.
Bài thứ hai là lời mời lên xứ Lạng. Câu hỏi “Đường lên xứ Lạng bao xa?” được đáp lại thật hóm hỉnh: chỉ cách một trái núi với ba quãng đồng. Rồi người hát mời gọi: “Ai ơi, đứng lại mà trông”, để ngắm núi thành Lạng, sông Tam Cờ. Lời ca chứa niềm tự hào về một vùng biên cương hùng vĩ.
Bài thứ ba vẽ cảnh xứ Huế bằng một chuyến đò. Những địa danh Đông Ba, Đập Đá, Vĩ Dạ, ngã ba Sình nối nhau, rồi khép lại bằng ánh trăng chênh và tiếng hò vọng xa, gợi một xứ Huế trữ tình, sâu lắng.
Bằng thể lục bát mộc mạc, cách liệt kê địa danh và những hình ảnh, âm thanh đặc trưng, chùm ca dao giúp em thêm yêu và tự hào về quê hương đất nước mình.
Phân tích Chùm ca dao về quê hương đất nước đầy đủ – mẫu 2
Từ bao đời nay, người Việt đã gửi tình yêu quê hương vào những câu hát giản dị. Có khi đó là lời mời ghé thăm, có khi là lời khoe một cảnh đẹp, có khi chỉ là một tiếng hò vọng trên sông. Chùm ca dao về quê hương đất nước, học trong Bài 4 sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức, là ba bài như thế. Ba bài ca dao đưa người đọc đi qua ba vùng đất – kinh thành Thăng Long, xứ Lạng miền núi và xứ Huế mộng mơ – để cùng chung một cảm xúc: tự hào, gắn bó với quê hương.
Bài ca dao thứ nhất là bức tranh Thăng Long vào một buổi sớm mờ sương. Câu mở đầu “Gió đưa cành trúc la đà” gợi một chuyển động nhẹ nhàng, mềm mại; từ láy “la đà” khiến cành trúc như đang đung đưa theo gió. Câu thứ hai không tả mà lắng nghe: tiếng chuông Trấn Võ (đền Quán Thánh) và tiếng gà gáy canh của Thọ Xương (tên một huyện cũ của kinh thành). Câu thứ ba mở ra một không gian mịt mù khói sương. Và câu cuối kết hợp cả âm thanh lẫn hình ảnh: nhịp chày giã giấy dó của làng Yên Thái và mặt Hồ Tây phẳng lặng như gương. Bài ca dao có cả âm thanh tâm linh (chuông chùa), âm thanh đời thường (gà gáy), âm thanh lao động (nhịp chày), cùng những địa danh nổi tiếng. Thăng Long hiện lên vừa cổ kính, thơ mộng, vừa ấm áp hơi thở cuộc sống.
Bài ca dao thứ hai đổi giọng sang một lời trò chuyện. Câu hỏi “Đường lên xứ Lạng bao xa?” như của một người khách lạ. Câu trả lời “Cách một trái núi với ba quãng đồng” nghe thật gần, thật dễ, có phần hóm hỉnh, như muốn nói: xứ Lạng không xa đâu, hãy lên chơi. Rồi lời mời “Ai ơi, đứng lại mà trông” vang lên tha thiết. Điệp từ “kìa” trong câu cuối như ngón tay chỉ trỏ, đưa người nghe nhìn về núi thành Lạng, sông Tam Cờ. Cảnh xứ Lạng hiện ra với núi non, sông nước hữu tình. Đằng sau lời mời là niềm tự hào của người dân về quê hương mình.
Bài ca dao thứ ba mang vẻ đẹp riêng của xứ Huế. Đây là bài lục bát biến thể: câu đầu lẽ ra sáu tiếng thì có tới tám tiếng. Điệp từ “đò” lặp lại ba lần cùng chuỗi địa danh Đông Ba, Đập Đá, Vĩ Dạ, ngã ba Sình vẽ nên một hành trình xuôi dòng sông Hương. Hai câu sau chuyển sang cảnh đêm: bóng trăng nghiêng lờ đờ trên sông, tiếng hò xa vọng lại. Tiếng hò ấy mang theo “nặng tình nước non” – tình yêu quê hương sâu đậm, tha thiết. Cảnh Huế vì thế không chỉ đẹp mà còn rất buồn, rất tình.
Điểm chung của ba bài ca dao là cách dùng địa danh. Mỗi tên đất, tên làng, tên sông đều mang theo một phần lịch sử, văn hóa. Nhắc đến chúng với niềm tự hào chính là cách người xưa thể hiện tình yêu quê hương. Bên cạnh đó, thể lục bát nhịp nhàng, ngôn ngữ giản dị, các biện pháp liệt kê, điệp từ, câu hỏi tu từ làm cho những câu hát dễ nhớ, dễ thuộc.
Ba bài ca dao như ba bức tranh nhỏ ghép thành bức tranh lớn về đất nước Việt Nam. Đọc chùm ca dao, em thêm yêu những vùng đất mình chưa từng đến và hiểu rằng mỗi miền quê đều có vẻ đẹp đáng tự hào.
Phân tích bài ca dao Gió đưa cành trúc la đà – mẫu 3
Trong kho tàng ca dao về Thăng Long – Hà Nội, bài “Gió đưa cành trúc la đà” là một trong những bài đẹp và được nhiều người thuộc nhất. Chỉ với bốn câu lục bát, người xưa đã vẽ nên cả một bức tranh kinh thành vừa thơ mộng vừa sống động.
Câu thơ đầu mở ra bằng hình ảnh cành trúc đung đưa theo gió. Từ láy “la đà” gợi dáng cành trúc nghiêng xuống, mềm mại, uyển chuyển. Cảnh vật như đang nhẹ nhàng thức dậy.
Câu thứ hai chuyển sang âm thanh: “Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương”. Trấn Võ (có bản chép là Trấn Vũ) là đền thờ Huyền Thiên Trấn Vũ, tức đền Quán Thánh ngày nay; Thọ Xương là tên một huyện của kinh thành Thăng Long xưa. Tiếng chuông ngân nga và tiếng gà gáy sáng hòa vào nhau, vừa thanh tịnh vừa gần gũi. Phép đối giữa hai vế câu làm âm thanh như vọng qua lại.
Câu thứ ba “Mịt mù khói tỏa ngàn sương” gợi một không gian rộng lớn, mờ ảo, như khói sương bao phủ cả kinh thành. Cảnh vật nhòa đi, mang vẻ đẹp huyền ảo.
Câu cuối khép lại bằng hai hình ảnh đặc trưng: nhịp chày giã giấy dó của làng Yên Thái – một làng nghề nổi tiếng ven hồ – và mặt nước Hồ Tây phẳng lặng như tấm gương. Nhịp chày là âm thanh của lao động, mặt gương là hình ảnh của thiên nhiên. Hai vế đặt cạnh nhau cho thấy cuộc sống con người hòa quyện với cảnh vật.
Bài ca dao sử dụng thể lục bát nhịp nhàng, phép liệt kê địa danh và cách kết hợp âm thanh với hình ảnh rất tinh tế. Đọc bài ca dao, em như được trở về một buổi sớm ở Thăng Long xưa và cảm nhận được niềm tự hào của người dân với kinh thành nghìn năm văn hiến.
Phân tích bài ca dao Đường lên xứ Lạng bao xa – mẫu 4
Bài ca dao “Đường lên xứ Lạng bao xa?” là lời giới thiệu đầy tự hào về vùng đất Lạng Sơn nơi biên cương phía Bắc.
Bài ca dao mở đầu bằng một câu hỏi. Người hỏi có lẽ là một người khách muốn lên xứ Lạng, băn khoăn đường đi xa hay gần. Câu trả lời thật bất ngờ: chỉ cách một trái núi với ba quãng đồng. Thực ra đường lên Lạng Sơn xưa kia xa xôi, hiểm trở, nhưng người hát lại nói như thể rất gần. Cách nói ấy vừa hóm hỉnh vừa thân tình, như muốn xóa đi khoảng cách để mời gọi người phương xa.
Câu thứ ba “Ai ơi, đứng lại mà trông” là một lời mời gọi tha thiết. Từ “ai” phiếm chỉ, có thể là bất cứ ai đi ngang qua. Người hát muốn mọi người dừng chân để chiêm ngưỡng cảnh đẹp quê mình.
Câu cuối với điệp từ “kìa” lặp lại hai lần như hai ngón tay chỉ: kìa núi thành Lạng, kìa sông Tam Cờ. Núi và sông, cứng và mềm, cao và dài, hợp thành một bức tranh sơn thủy hữu tình. Phép liệt kê địa danh cho thấy sự hiểu biết và niềm tự hào của người dân về quê hương.
Bài ca dao ngắn gọn, ngôn ngữ mộc mạc, thể lục bát nhịp nhàng. Qua đó, em cảm nhận được tình yêu quê hương chân thành và sự hiếu khách của người dân xứ Lạng.
Phân tích bài ca dao Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá – mẫu 5
Nếu bài ca dao về Thăng Long mang vẻ cổ kính, bài về xứ Lạng mang vẻ hùng vĩ, thì bài ca dao “Đò từ Đông Ba, đò qua Đập Đá” lại mang vẻ trữ tình, man mác rất riêng của xứ Huế.
Điều đầu tiên dễ nhận thấy là hình thức đặc biệt của bài ca dao. Đây là thể lục bát biến thể: câu lục và câu bát không theo đúng số tiếng thông thường, câu đầu có tới tám tiếng. Sự phá cách ấy tạo nên nhịp điệu khoan thai như tiếng mái chèo khua nước.
Hai câu đầu là một hành trình trên sông. Điệp từ “đò” lặp lại liên tiếp, cùng các động từ từ, qua, về, thẳng dẫn người nghe đi qua những địa danh của Huế: Đông Ba, Đập Đá, Vĩ Dạ, rồi tới ngã ba Sình – nơi sông Hương gặp một nhánh sông khác. Mỗi địa danh là một điểm nhấn quen thuộc của xứ Huế, khiến bài ca dao như một tấm bản đồ bằng lời.
Hai câu sau chuyển sang không gian đêm trăng. Từ láy “lờ đờ” gợi bóng trăng nghiêng nghiêng, chậm chạp, lặng lẽ trên mặt nước. Rồi từ xa vọng lại tiếng hò – có lẽ là điệu hò mái đẩy quen thuộc của người chèo đò trên sông Hương. Tiếng hò “nặng tình nước non”, chứa đựng tình yêu quê hương sâu nặng.
Cảnh và tình hòa quyện: cảnh sông nước đêm trăng làm nền cho tiếng hò, và tiếng hò làm cho cảnh thêm sâu lắng. Đọc bài ca dao, em như được ngồi trên một con đò trôi chậm trên sông Hương, lắng nghe hồn Huế qua tiếng hò vọng xa.
Đoạn văn cảm nhận về Chùm ca dao về quê hương đất nước – mẫu 6
Chùm ca dao về quê hương đất nước đã đưa em đi qua ba miền quê với ba vẻ đẹp khác nhau. Ở bài thứ nhất, em thấy Thăng Long xưa thơ mộng với cành trúc la đà, khói sương mịt mù, mặt Hồ Tây như gương, rộn ràng tiếng chuông, tiếng gà và nhịp chày Yên Thái. Ở bài thứ hai, em nghe lời mời gọi hóm hỉnh và tự hào của người xứ Lạng với núi thành Lạng, sông Tam Cờ. Ở bài thứ ba, em cảm nhận vẻ trữ tình của xứ Huế qua chuyến đò xuôi dòng, ánh trăng chênh và tiếng hò vọng xa. Bằng thể lục bát mộc mạc và những địa danh quen thuộc, chùm ca dao đã khơi dậy trong em niềm tự hào về vẻ đẹp đất nước và mong muốn được một lần đặt chân đến những miền đất ấy.
Mở bài, kết bài tham khảo về chùm ca dao
Em có thể dùng các đoạn sau để mở bài, kết bài cho bài phân tích cả chùm hoặc từng bài ca dao.
Mở bài trực tiếp: Chùm ca dao về quê hương đất nước gồm ba bài ca dao quen thuộc, vẽ nên ba bức tranh về Thăng Long, xứ Lạng và xứ Huế. Qua những câu hát mộc mạc, người xưa đã gửi gắm tình yêu và niềm tự hào sâu sắc về quê hương.
Mở bài gián tiếp: Ca dao được ví như dòng sữa ngọt nuôi dưỡng tâm hồn người Việt. Trong kho tàng ấy, những bài ca dao về quê hương đất nước luôn có sức lay động đặc biệt, bởi chúng chứa đựng tình cảm gắn bó tha thiết của con người với mảnh đất mình sinh ra.
Mở bài cho một bài ca dao lẻ: Nhắc đến Thăng Long – Hà Nội, người ta thường nhớ ngay câu hát “Gió đưa cành trúc la đà”. Bài ca dao ngắn mà vẽ nên cả một bức tranh kinh thành vừa thơ mộng vừa sống động, khiến bao thế hệ người đọc say mê.
Kết bài 1: Ba bài ca dao như ba nét vẽ trên tấm bản đồ quê hương. Đọc chùm ca dao, em thêm yêu những miền đất của Tổ quốc và mong một ngày được tận mắt ngắm nhìn Hồ Tây, xứ Lạng, sông Hương.
Kết bài 2: Với thể lục bát mộc mạc và những địa danh quen thuộc, chùm ca dao đã khơi dậy trong em niềm tự hào về vẻ đẹp đất nước. Em hiểu rằng yêu quê hương là bắt đầu từ việc hiểu và trân trọng từng tên đất, tên làng, tên sông.
Kết luận
Khi phân tích Chùm ca dao về quê hương đất nước, em nên chỉ ra vẻ đẹp riêng của từng miền (Thăng Long cổ kính, xứ Lạng hùng vĩ, xứ Huế trữ tình) và điểm chung là niềm tự hào về quê hương, thể hiện qua cách liệt kê địa danh, thể lục bát và các biện pháp tu từ. Nếu đề chỉ yêu cầu một bài, hãy mở rộng phần tương ứng với nhiều chi tiết hơn.
Xem thêm: