Chùm ca dao trào phúng gồm ba bài ca dao hài hước, châm biếm, là văn bản đọc thứ ba trong Bài 5 (Những câu chuyện hài) của sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức tập một (trang 111 – 112). Ba bài ca dao ngắn mà tiếng cười rất đa dạng: cười kẻ hành nghề mê tín, cười kẻ mạnh giả nhân nghĩa, cười tục thách cưới nặng nề. Bài viết dưới đây giới thiệu toàn văn, kiến thức chung về ca dao trào phúng và phân tích từng bài trong chùm.
Nội dung văn bản Chùm ca dao trào phúng
Ca dao là sáng tác dân gian, không thuộc diện bảo hộ quyền tác giả, nên dưới đây là toàn văn theo SGK.

Bài 1
Chập chập rồi lại cheng cheng
Con gà sống lớn để riêng cho thầy
Đơm xôi thì đơm cho đầy
Đơm mà vơi đĩa thì thầy không ưa
Bài 2
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đường xa
Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo
Bài 3
Anh là con trai học trò
Em mà thách cưới thế anh lo thế nào?
Em khoe em đẹp như sao
Để anh lận đận ra vào đã lâu
Mẹ em thách cưới cho nhiều
Thử xem anh nghèo có cưới được không
Nghèo thì bán bể bán sông
Anh cũng cố cưới lấy công ra vào
Cưới em trăm tám ông sao
Trăm tấm lụa đào mươi cót trầu cau
Cưới em một trăm con trâu
Một nghìn con lợn, bồ câu tám nghìn
Cưới em tám vạn quan tiền
Để làm tế lễ gia tiên ông bà
Cưới em một chĩnh vàng hoa
Mười chum vàng cốm bạc là trăm nong
Cưới em ba chum mật ong
Mười thúng mỡ muỗi ba nong quýt đầy…
Tìm hiểu chung về ca dao trào phúng
Ca dao trào phúng là gì?
Ca dao là những bài thơ trữ tình dân gian, thường làm theo thể lục bát, do nhân dân sáng tác và truyền miệng qua nhiều thế hệ. Trong kho tàng ấy, ca dao trào phúng (còn gọi là ca dao hài hước, châm biếm) là bộ phận dùng tiếng cười làm vũ khí: người bình dân cười để giải trí, để tự an ủi trong cảnh nghèo, và nhất là để phê phán những thói hư, tật xấu, những hủ tục, những kẻ có quyền thế trong xã hội cũ.
Đối tượng và giọng điệu của tiếng cười
- Đối tượng: thầy bói, thầy cúng lừa bịp; quan lại, cường hào; người lười biếng, khoác lác; tục lệ thách cưới, ma chay tốn kém; đôi khi là chính người lao động nghèo tự cười mình.
- Giọng điệu: từ hài hước nhẹ nhàng, tự trào đến mỉa mai, châm biếm và đả kích sâu cay (xem thêm văn bản lí luận trong Bài 4: Một số giọng điệu của tiếng cười trong thơ trào phúng).
Nghệ thuật gây cười thường gặp
- Phóng đại, nói quá đến mức phi lí để cái đáng cười lộ ra.
- Tương phản, đối lập: giữa vẻ ngoài và bản chất, giữa lời nói và việc làm.
- Mượn chuyện loài vật (mèo, chuột, cò, chim…) để nói chuyện con người.
- Liệt kê dồn dập, nói ngược, chơi chữ, dùng từ tượng thanh, tượng hình.
Thông tin tác giả, tác phẩm Chùm ca dao trào phúng
Tác giả dân gian
Như mọi bài ca dao, ba bài trong chùm là sáng tác tập thể của nhân dân lao động, được lưu truyền bằng miệng, vì thế mỗi bài có thể có vài dị bản khác nhau đôi chữ tùy vùng miền và người sưu tầm. Khi làm bài, em dùng đúng văn bản in trong SGK.
Xuất xứ
SGK trích ba bài từ bộ sưu tập ca dao do Nguyễn Xuân Kính chủ biên (quyển 3, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 2015).
Thể loại, thể thơ, phương thức biểu đạt
- Thể loại: ca dao trào phúng.
- Thể thơ: lục bát (bài 3 có câu thơ kéo dài thành chín tiếng, kiểu lục bát biến thể).
- Phương thức biểu đạt: chủ yếu là biểu cảm, có xen tự sự và miêu tả.
Bố cục – Chùm ca dao trào phúng có mấy phần?
Văn bản gồm 3 bài, mỗi bài là một đối tượng của tiếng cười:
- Bài 1: cười thầy cúng tham ăn, lợi dụng mê tín.
- Bài 2: cười kẻ mạnh giả nhân giả nghĩa (con mèo) bị kẻ yếu (con chuột) đáp trả.
- Bài 3: cười tục thách cưới qua lời chàng học trò nghèo.
Tìm hiểu bài ca dao số 1
Hai từ tượng thanh “chập chập”, “cheng cheng” mở đầu bài ca dao gợi ngay không khí một buổi cúng bái với tiếng não bạt, thanh la rộn ràng. Nhưng ngay sau đó, sự chú ý dồn hết vào lễ vật: con gà phải là “Con gà sống lớn để riêng cho thầy”, đĩa xôi phải đơm thật đầy, còn “Đơm mà vơi đĩa thì thầy không ưa”. Tiếng cười bật ra từ sự tương phản: buổi lễ lẽ ra linh thiêng hóa ra chỉ xoay quanh miếng ăn. Bài ca dao châm biếm những thầy cúng, thầy bói hành nghề mê tín để trục lợi, đồng thời nhắc khéo những người nhẹ dạ tin theo.
Tìm hiểu bài ca dao số 2
Bài ca dao dựng một tình huống ngược đời: mèo – kẻ thù truyền kiếp của chuột – lại trèo cây cau “hỏi thăm” và gọi chuột bằng “chú” đầy thân mật. Cách xưng hô ngọt ngào ấy để lộ bộ mặt giả nhân giả nghĩa, gợi đến thành ngữ “Mèo khóc chuột”. Câu đáp mới thật thú vị: chuột đã “đi chợ đường xa”, tức là đã cao chạy xa bay, lại còn đi mua mắm muối để “giỗ cha con mèo” – một đòn trêu ngươi khiến kẻ mạnh bẽ bàng. Sự tương phản mạnh – yếu, thật – giả tạo nên tiếng cười; qua đó dân gian phê phán những kẻ có quyền thế ngoài mặt tỏ ra tử tế, bên trong rắp tâm hại người, và bày tỏ niềm tin vào sự tỉnh táo, khôn khéo của người yếu thế.
Tìm hiểu bài ca dao số 3
Bài ca dao là lời chàng trai “con trai học trò” nghèo đáp lại chuyện cô gái và mẹ cô thách cưới thật nhiều để thử lòng. Thay vì van nài hay than thở, chàng tuyên bố sẵn sàng “bán bể bán sông” – thứ không ai bán được – rồi kể một danh sách lễ vật dài dằng dặc, mở đầu bằng “Cưới em trăm tám ông sao / Trăm tấm lụa đào mươi cót trầu cau”; tiếp đó trâu, lợn, bồ câu tính bằng trăm bằng nghìn, tiền tính bằng vạn quan, vàng bạc đong bằng chum bằng nong, và cả “mỡ muỗi”. Nghệ thuật phóng đại kết hợp liệt kê làm các con số cứ thế phình lên đến mức phi lí, dấu ba chấm cuối bài như hứa hẹn danh sách còn kéo dài mãi. Tiếng cười ở đây vừa là cách chàng trai tự trào về cái nghèo của mình, vừa giễu nhẹ nhàng mà thấm thía hủ tục đòi sính lễ quá mức; lối phê phán hóm hỉnh nên không hề gây căng thẳng.
Giá trị nội dung
Chùm ca dao phản ánh và phê phán những mặt trái của xã hội xưa: nạn mê tín dị đoan bị kẻ xấu lợi dụng, thói giả nhân giả nghĩa của kẻ mạnh, hủ tục thách cưới. Đằng sau tiếng cười là trí tuệ, tinh thần lạc quan và thái độ sống thẳng thắn của người bình dân.
Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ lục bát quen thuộc, lời thơ ngắn gọn, dễ nhớ, đậm chất khẩu ngữ.
- Từ tượng thanh, hình ảnh ẩn dụ và cách mượn chuyện loài vật để nói chuyện người.
- Thủ pháp tương phản, phóng đại, liệt kê tạo nên tiếng cười bất ngờ.
- Giọng điệu linh hoạt: châm biếm ở bài 1, 2; hài hước, tự trào ở bài 3.
Sơ đồ tư duy Chùm ca dao trào phúng
Sơ đồ dưới đây giúp em ôn nhanh ba bài ca dao.

Lời kết
Khi học chùm ca dao trào phúng, em cần nắm: đây là sáng tác dân gian, thể lục bát; mỗi bài nhắm vào một đối tượng (thầy cúng, kẻ mạnh giả nhân nghĩa, tục thách cưới); tiếng cười được tạo nên nhờ tương phản, phóng đại, liệt kê. Hiểu cách dân gian gây cười cũng giúp em làm tốt bài viết nghị luận về một thói xấu của con người ở phần Viết của Bài 5.
Xem thêm: